Hai phần trước đã nói về cái chậu nước và mặt đất, phần này nói về thứ đứng dọc theo lối đi đó: hàng rào tre.
Hàng rào ở ta thường là để giữ, nên phải cao và kín. Còn hàng rào trong vườn Nhật thì phần lớn lại thấp và thưa, bước qua một cái là xong. Vậy nó tồn tại để làm gì ?
YOTSUME-GAKI, Hàng rào tre đơn giản
Tại sao là Yotsume-gaki ( 四つ目垣 ) ?
Hàng rào tre ở Nhật có rất nhiều kiểu, gọi chung bằng chữ 垣 "-gaki". Yotsume-gaki là kiểu đơn giản nhất: mấy cây tre gác vào nhau rồi buộc dây, thưa, cao khoảng 1m. Rẻ và dễ dựng nên nó có mặt gần như ở mọi khu vườn.
Trong vườn truyền thống, Yotsume-gaki hay dùng để ngăn phần ngoài với phần trong của vườn trà. Nhiều chỗ người ta trồng bụi thấp dọc chân rào, hoặc dắt dây leo cho bò theo nó.
Cái tên nói về những ô trống
Yotsume-gaki dịch ra là "hàng rào bốn mắt". Mấy con mắt đó chính là những ô trống sinh ra ở chỗ tre đứng giao với tre ngang. Cấu tạo của nó đơn giản đến mức gần như không có gì: vài cây tre cắm đứng gọi là Tateko, vài cây buộc ngang gọi là Dōbuchi, vậy là xong.
Chi tiết thú vị là người ta không đặt tên hàng rào theo mấy cây tre, mà đặt tên theo mấy ô trống. Bởi vì đúng là phần trống mới là phần làm việc. Đứng bên này vẫn thấy được bên kia: có 1 ranh giới, nhưng tầm nhìn thì không bị chặn. Khu vườn nhờ vậy mà không bị cắt làm đôi, nó chỉ được chia ra thành từng lớp.


Trong vườn trà, Yotsume-gaki thường ngăn phần ngoài với phần trong của Roji - con đường dẫn vào Trà thất. Vai trò dẫn đường này được Sen no Rikyū định hình rõ nhất, khi ông hoàn thiện Roji thành một tuyến đi trọn vẹn trong thời Momoyama (1573–1603), có tác dụng đưa khách rời khỏi thế giới thường nhật trước khi chạm tới cửa trà thất. Khách đi qua chỗ đó là đi qua 1 cái mốc, bỏ lại chuyện bên ngoài để chuẩn bị vào buổi trà. Cái hàng rào ấy chẳng ngăn được ai cả, nhưng nó đánh dấu được cái mốc đó.
Yotsume-gaki có từ bao giờ
Hình vẽ hàng rào kiểu Yotsume-gaki đã xuất hiện trong tranh Nhật từ thời Heian (794–1185), tức là trước khi có bất kỳ khu vườn trà nào. Lúc đó nó chỉ là cách quây đất đơn giản, chưa mang ý nghĩa nghi thức gì cả.
Phải đợi tới thời Momoyama (1573–1615), khi Chanoyu - nghi thức uống trà - phát triển mạnh, các kiểu hàng rào tre mới nở rộ và phân hoá thành hàng chục biến thể khác nhau, mỗi kiểu gắn với một ngôi chùa hoặc một trà nhân cụ thể. Yotsume-gaki, nhờ dễ làm nhất trong số đó, trở thành kiểu được dùng rộng rãi nhất và tồn tại tới bây giờ gần như không đổi dạng.
Theo Hiệp hội Vườn Nhật Anh quốc (Japanese Garden Society, bài đăng 2025 về nghề dựng hàng rào tre), việc dựng một hàng rào tre chỉ chiếm khoảng 40% công sức, 60% còn lại nằm ở việc chăm sóc và thay thế về sau. Con số đó cho thấy hàng rào tre không phải món dựng một lần rồi để đó, mà là 1 phần việc chăm vườn diễn ra liên tục, năm này qua năm khác.
Chỗ khó nằm ở sợi dây
Nhìn thì đơn giản vậy nhưng chỗ khó của hàng rào tre lại nằm ở mối buộc.
Người Nhật dùng dây thừng đen bện từ bẹ cây cọ Trachycarpus fortunei, gọi là Shuronawa, và buộc bằng 1 kiểu nút tên là Ibo-musubi, dịch ra là "nút mụn cóc". Cuốn Bamboo Fences of Japan của Isao Yoshikawa - tài liệu kỹ thuật nhiều vườn Nhật ở phương Tây dùng làm cẩm nang dựng rào - khuyến nghị đúng kiểu nút này cho Yotsume-gaki, vì nó giữ chặt mà vẫn tháo lại được khi cần thay tre mới. Nút đó phải nổi lên đều tăm tắp, cùng cỡ, cùng hướng, chạy dọc suốt hàng rào.




Ở đây không có bí quyết gì cả, chỉ có 1 điều hơi ngược đời: cái hàng rào rẻ nhất, làm bằng vật liệu rẻ nhất, lại đòi tay nghề cao nhất. Bởi vì nó trống trơn, không có gì để che lỗi. Toàn bộ giá trị của nó nằm ở chỗ mấy mối buộc có đều nhau hay không.
Một dự án dựng lại Yotsume-gaki từ đầu của nhóm nghiên cứu Kitchen Studio Factory (chương trình Making in East Asia) đo được vài con số cụ thể để tham khảo: tre đứng (tateko) cách nhau khoảng 7,6 cm (3 inch), tre ngang chia thành nhịp 46 cm hoặc 91 cm (18 và 36 inch) tuỳ vị trí trên mặt rào, đường kính tre dùng dao động 1 đến 2 cm (⅜ đến ¾ inch). Tre làm rào cũng không phải chặt tuỳ tiện: đa số vườn Nhật chặt tre ở tuổi 3 năm, lúc thân đã đủ cứng nhưng vỏ chưa dày và giòn, dễ uốn khi buộc mà không nứt.
Làm ở Việt Nam thì lưu ý gì
Tre để mộc ngoài trời vài năm sẽ bạc dần thành màu xám, đó là màu mà người Nhật muốn chứ không phải là hỏng. Nhưng khí hậu ở Việt Nam ẩm hơn nhiều nên mối mọt cũng nhanh hơn.
Vì vậy tre cần được ngâm hoặc hun xử lý trước khi dựng, chân cột đừng chôn thẳng xuống đất mà nên kê lên đá hoặc bọc lại. Tre không xử lý dựng ngoài trời ở khí hậu ẩm nói chung chỉ đứng được 2 đến 7 năm, còn tre có xử lý và bảo dưỡng đều đặn có thể lên tới 10 năm hoặc hơn - đó là mức đo ở khí hậu ôn đới; nắng mưa thất thường ở Việt Nam thì theo kinh nghiệm thi công thực tế còn khắc nghiệt hơn vậy. Và quan trọng nhất là phải xác định trước với chủ nhà rằng hàng rào tre là món sớm muộn cũng phải thay, không phải món dựng một lần dùng mãi. Nếu người ta không chấp nhận chuyện thay thì thà dùng vật liệu khác ngay từ đầu, còn hơn là để nó mục dần trong vườn.
Còn tre nhân tạo thì sao ?
Mấy năm gần đây trên thị trường có khá nhiều hãng làm tre nhân tạo, hàng nhập từ Trung Quốc cũng có mà từ Nhật cũng có. Nhìn xa thì rất giống, mà lại không mối mọt, không mục chân, gần như không phải bảo dưỡng gì.
Đó không phải hàng giả hay đường tắt. Nó là 1 sự đánh đổi, và nên biết rõ đang đổi cái gì lấy cái gì.
Cái được thì rõ rồi: bền, ổn định, không phải thay sau 5 năm. Với 1 quán cà phê hay 1 văn phòng không có người chăm vườn thì đây là lựa chọn đúng, chứ không phải lựa chọn dở.
Còn cái mất thì ít ai nói tới: tre nhân tạo không bạc đi. Nó của năm nay và của 10 năm sau là như nhau. Mà như phần 5 sẽ thấy, chuyện vật liệu cũ đi theo thời gian lại chính là 1 phần trong cách người Nhật thiết kế. Nói cách khác, sự bền mua được bằng cách bỏ đi đúng cái phẩm chất đang cố bắt chước.
Có 1 chi tiết nữa đáng để ý: chính các hãng Nhật cũng đang sản xuất tre nhân tạo. Nếu cái gọi là tinh thần Nhật thật sự nằm ở chỗ phải dùng tre thật cho nó cũ đi, thì đã không có ngành đó ở bên Nhật rồi. Người ta cũng chọn thực dụng khi hoàn cảnh đòi hỏi thôi.
Nên câu hỏi không phải là tre thật hay tre giả, mà là khu vườn này có ai chăm hay không. Có người chăm thì dùng tre thật, cái đẹp của nó về sau không vật liệu nào thay được. Không có ai chăm thì dùng tre nhân tạo, và đừng áy náy gì cả.
Bài riêng Tre nhân tạo — đang đổi cái gì lấy cái gì: ba nhóm vật liệu, bốn chỗ bị lộ, và chỗ nào thì đừng tiếc tiền.
Những loại hàng rào khác
Hàng rào tre ở Nhật nhìn chung được phân làm 2 loại chính: các hàng rào cao, dùng để phân chia khu vực rõ ràng, mang tính riêng tư cao; các hàng rào thấp chủ yếu dùng để phân chia không gian và dẫn lối người đi.
Hàng rào cao
Loại này cao ngang đầu người, tre xếp sát nhau nên không nhìn xuyên qua được. Thường dùng ở ranh giới ngoài cùng, hoặc để che đi 1 thứ gì đó không đẹp như chỗ để máy móc, tường nhà bên cạnh.
- Chasen-gaki 茶筅垣 và Daitokuji-gaki 大徳寺垣
- Shiba-gaki (Uguisu-gaki) 柴垣, 鶯垣 và Koshiba-gaki 小柴垣
- Kuromoji-gaki 黒文字垣 và Katsura-gaki 桂垣
- Ginkakuji-gaki 銀閣寺垣 và Kenninji-gaki 建仁寺垣
- Misu-gaki 御簾垣 và Nanzenji-gaki 南禅寺垣
- Teppō-gaki 鉄砲垣 và Tokusa-gaki 木賊垣
- Sode-gaki 袖垣 và Numazu-gaki/Ajiro-gaki 沼津垣, 網代垣




Trong nhóm này thì Kenninji-gaki là loại kinh điển hay gặp nhất, tre chẻ xếp khít rồi buộc bằng thanh ngang. Còn Sode-gaki thì đặc biệt hơn, tên nó nghĩa là "hàng rào tay áo", chỉ là 1 mảng rào ngắn gắn vào tường nhà để che đúng 1 hướng nhìn chứ không bao quanh cái gì cả.
Hàng rào thấp
Loại này thấp ngang hông hoặc thấp hơn, thưa và nhìn xuyên qua được. Đây mới là nhóm làm nên đặc trưng của vườn Nhật.
- Yotsume-gaki 四つ目垣 và Kinkakuji-gaki 金閣寺垣
- Kōetsu-gaki 光悦垣 và Ryōanji-gaki 龍安寺垣
- Namako-gaki 海鼠垣、ナマコ垣 và Shiori-do 枝折戸


Trong nhóm này Kōetsu-gaki là loại đẹp nhất trong nhóm, sống rào của nó uốn cong võng xuống chạm đất ở 1 đầu, nhìn như 1 nét bút. Nó gần như không phân chia gì cả mà là 1 tác phẩm điêu khắc đặt trong vườn.
Để ý sẽ thấy nhiều cái tên trùng với tên chùa: Kenninji, Ryōanji, Kinkakuji, Daitokuji. Đó là vì mỗi kiểu rào ra đời ở 1 ngôi chùa rồi người ta lấy luôn tên chùa đặt cho kiểu rào, cũng giống như cách gọi mái Bát Tràng hay gạch Hạ Long vậy.
Sở dĩ có nhiều kiểu đến vậy cũng vì nguyên liệu nhiều không kém: thế giới có hơn 1.200 loài tre, riêng Nhật Bản khoảng 250 loài, thuộc nhóm nước nhiều tre nhất. Mỗi vùng, mỗi ngôi chùa quen dùng loại tre sẵn có quanh vùng, cách chẻ và buộc cũng theo đó mà khác đi, nên 20 kiểu hàng rào kể trên không phải 20 cách trang trí tuỳ hứng mà là 20 cách ứng xử với 20 loại vật liệu khác nhau.
Chọn loại nào cho khu vườn
Trước khi hỏi "làm hàng rào kiểu gì cho đẹp", nên hỏi 2 câu này trước.
Thứ nhất, cần che hay cần chia ? Nếu cần che thì chọn nhóm cao, và chấp nhận rằng chỗ đó tầm nhìn khu vườn sẽ bị cắt cụt. Nếu chỉ cần chia thì chọn nhóm thấp, và đừng làm nó cao lên cho chắc ăn, vì làm vậy là mất đi cái hay của nó rồi.
Thứ hai, chỗ này đang ở mức nào ? Nhớ lại Shin - Gyō - Sō ở phần trước: hàng rào tre chẻ đều, buộc thẳng thớm là mức Shin, còn rào cành khô buộc lỏng lẻo là mức Sō. Đặt 1 cái rào quá chỉn chu vào góc vườn hoang, hoặc ngược lại, đều là những chỗ hỏng rất hay gặp.
Vườn nhà phố sát ranh giới hàng xóm, hoặc sân sau cần che khuất khu kỹ thuật, máy lạnh, bể nước, thì hợp với nhóm cao như Kenninji-gaki hay Misu-gaki - đổi lấy sự riêng tư bằng việc chấp nhận cắt tầm nhìn tại đúng chỗ đó. Vườn trà, sân trong nhà hàng, hoặc lối dạo chỉ cần ngăn nhẹ giữa khu tiếp khách và khu riêng tư, thì hợp với nhóm thấp như Yotsume-gaki hay Kōetsu-gaki, nơi ranh giới chỉ cần gợi ý chứ không cần chắn.
Nếu chỉ chọn được 1 loại để làm thì nên là Yotsume-gaki. Nó rẻ nhất, dễ nhất, và dạy được thứ quan trọng nhất: ranh giới không cần phải kín thì mới thành ranh giới.
Vui lòng ghi "Nguồn: canhquan.net" khi sao chép.