Cái chậu nước đã nói ở phần trước là chỗ khách dừng lại. Phần này nói về thứ dẫn khách tới đó: lối đi. Trong vườn Nhật, lối đi không chỉ để tới nơi — nó quyết định người ta đi nhanh hay chậm, nhìn xuống hay nhìn lên, và dừng ở đâu.

NOBEDAN - Những bề mặt thảm đá đặc trưng
Nobedan được hiểu là một bề mặt (lối đi) được ốp lát 1 cách đặc trưng. Ở Nhật, có thể gặp nó trong nhiều khu vườn: như một con đường vào nhà hoặc những con đường chính trong vườn, cũng có thể là trước ghế chờ đợi. Nhìn chung, nó như 1 yếu tố trang trí để nhận diện khu vườn. Có vô số sự thay đổi về hình dạng và sự lựa chọn vật liệu: vuông, tấm đa giác, hình chữ nhật, đá cuội, phiến đá tự nhiên. Sự kết hợp vật liệu của đá hình tự nhiên (như sỏi) và đá đã qua xử lý (ví dụ tấm hình chữ nhật) cũng là 1 điều đặc biệt thú vị.


Nobedan và Tobi-ishi khác nhau như thế nào?
Theo một câu chuyện xa xưa của Nhật Bản, khi một vị "Thầy chè" chứng kiến một Shōgun (Tướng quân Nhật) đi ngang qua sân bùn đất để vào nơi uống trà, để giữ được chiếc guốc gỗ của ông không bị chìm trong bùn, những người tùy tùng đi trước đã trải áo quần lên mặt đất.


Thầy chè nghĩ rằng, người đi vào vườn trà phải có một trạng thái tâm tư hài hòa thì mới phù hợp cho việc thưởng trà được, ông băn khoăn nên có 1 cách tốt hơn để giữ cho bàn chân người khách cao và khô. Ông bắt đầu thử nghiệm với những viên đá phẳng, ông tạo ra một con đường không chỉ phục vụ việc đi lại mà còn tạo vẻ đẹp cho khu vườn. Sau một thời gian ý tưởng của ông được sử dụng rộng rãi bởi những người làm vườn Nhật Bản tạo ra từ những khu vườn cát đến những lối đi từ ngôi nhà đến môi trường xung quanh.

Những nhà làm vườn phân làm 2 lối bố trí đá khác nhau: Tobi-ishi hay "đá tảng" và Nobedan hay "tấm thảm bằng đá".
Tobi-ishi là cách bố trí các tảng đá lớn độc lập thành các dạng lối đi, phù hợp cho các lối đi nhỏ, hẹp trong sân vườn. Các viên đá có hình dạng và kích thước khác nhau hoặc gần giống nhau tùy vào cách bố trí của nhà làm vườn, các viên đá được xếp theo các đường viền cong, rất ít khi là đường thẳng, nó thường ẩn sau những bụi cây hoặc lộ ra giống như những con chim cút trên bãi biển hoặc bố trí thành các đường ziczag như những con ngỗng di cư. Do đó lối đi Tobi-ishi thường dùng để dẫn lối bước chân đi đến những điểm đích được quy định trước theo ý đồ.
Ngược lại Nobedan là lối bố trí sắp xếp các viên đá theo những thảm lớn, rộng hơn. Những tấm thảm đá này có thể dẫn lối người đi hoặc cũng có thể chỉ đơn giản là 1 sân trống, có thể tập trung nhiều người hoặc 1 người. Ở Nobedan, đòi hỏi về thẩm mỹ và tay nghề cao hơn hẳn.
Các đường Nobedan được sử dụng cho các lối đi rộng rãi, cho những khu vực ít thân mật. Các viên đá được tổ chức thành các cụm và sắp xếp phức tạp, trong đó các đá tự nhiên và nhân tạo được kết hợp với nhau. Không giống như Tobi-ishi, ở đây thường là những đường thẳng có viền nổi bật, có một sự tách biệt của nó với môi trường.
Đá không chỉ để đi
Có 1 điều nên nói thêm ở đây: 2 lối bố trí này không chỉ khác nhau về hình thức, mà còn khác nhau ở chỗ chúng bắt người ta đi như thế nào.

Khi đi trên Tobi-ishi, chân phải tìm hòn đá kế tiếp nên mắt buộc phải nhìn xuống. Cứ vài bước thì hướng đá lại đổi, và ngay lúc đó người đi phải dừng lại, ngẩng lên. Người làm vườn giỏi sẽ đặt sẵn ở chỗ đó một cảnh đáng nhìn. Nói cách khác, Tobi-ishi chính là cách người Nhật đặt dấu chấm câu lên mặt đất.

Còn Nobedan thì cho phép người ta đi thẳng, đi song song với nhau, đứng lại thành nhóm mà nói chuyện. Vì vậy nó hợp với đoạn từ cổng vào nhà, sân trước chỗ ngồi chờ, những khu vực mang tính chung hơn.
Khi đặt Tobi-ishi thì nên lưu ý mấy điểm sau: khoảng cách giữa tim 2 hòn đá nên vào quãng 45-60cm cho vừa 1 bước chân thư thả, xa hơn thì khách phải nhảy mà gần quá thì bước cụt rất mỏi. Mặt đá nên phẳng nhưng đừng đánh bóng, vì đá bóng gặp mưa rất trơn. Và ở những chỗ muốn người ta dừng lại, hãy đặt 1 hòn to hơn để đủ chỗ cho cả 2 bàn chân, tự khắc người đi sẽ đứng lại ở đó.
Một điểm hay bị bỏ qua: mặt tobi-ishi nên nhô cao hơn mặt cỏ hoặc rêu chung quanh khoảng 3-6cm. Nhô thấp quá thì nước mưa tràn lên mặt đá, nhô cao quá thì vấp chân lúc trời tối. Tuyến đá cũng không đi thẳng hàng mà so le có chủ ý, hòn nọ lệch hòn kia một chút để buộc bước chân phải tự điều chỉnh, giữ cho người đi luôn ở trạng thái chú tâm chứ không đi theo quán tính. Tới chỗ đổi hướng, đá đặt to hơn hẳn phần còn lại - vừa đủ diện tích xoay người, vừa là tín hiệu cho mắt biết sắp rẽ.
Lát nobedan: nền, mạch và chuyện thoát nước ở Việt Nam
Cấu tạo một tấm nobedan đi từ dưới lên: đá base đầm chặt dày 12-15cm, lớp đá dăm thô để thoát nước dày 8-10cm, móng chống lún bằng bê tông nghèo dày 10cm, vữa đệm dày 3-4cm (viên biên có thêm khối vữa chèn sau lưng để không bị xô ra ngoài), trên cùng là đá lát dày 4-6cm. Mặt lát nhô cao hơn cốt đất chung quanh 2-3cm để nước chảy ra hai bên chứ không đọng ở giữa lối đi.
Nghề lát nobedan là nghề ghép, không phải rải. Thợ chọn từng viên, chặt sửa cạnh cho ăn khớp viên bên cạnh, sao cho cạnh viên này chính là cạnh viên kia. Mạch phải mảnh và đều, so le và len lỏi, không chỗ nào chạy thành một đường thẳng liền suốt bề ngang - nếu không mắt sẽ bám theo đường mạch đó và lối đi coi như bị chặt làm đôi. Bốn viên chụm vào đúng một điểm thành hình chữ thập cũng là lỗi, luôn phải so le ba viên một mối. Hai viên cùng cỡ cùng dáng nằm sát nhau cũng sai - mỗi hòn phải khác hòn kề bên.
Làm ở Việt Nam thì mưa là thứ vướng nhất. Khí hậu ẩm nóng khiến rêu bám mặt đá nhanh hơn hẳn so với vùng ôn đới, nên bề mặt càng không được đánh bóng - chọn đá mặt nhám hoặc để nguyên mặt vỡ tự nhiên, và mặt lát cần quét dọn định kỳ để rêu không lan quá dày. Mưa lớn tập trung theo mùa cũng dễ làm lún nền nếu lớp đá dăm thoát nước mỏng hơn mức cần thiết, nên ở công trình thực tế lớp này thường phải dày hơn số tham khảo gốc một chút, và độ dốc ngang ra hai bên cũng nên rõ hơn để nước thoát nhanh, tránh đọng thành vũng ngay trên mặt lát.
Vật liệu thay thế ở Việt Nam
Đá gốc bên Nhật dùng granite cắt cho phần biên và đá núi lửa tự nhiên cho phần ruột. Ở Việt Nam có thể thay bằng đá xanh Thanh Hóa (loại đá vôi cứng, mài được cạnh thẳng) cho dải biên, và đá suối hoặc đá ong mặt gồ ghề cho phần ruột ghép. Cỡ viên nên giữ trong khoảng 20-40cm mỗi cạnh - nhỏ hơn thì mạch quá dày đặc trông vụn, lớn hơn thì mất cảm giác từng bước chân. Nên tránh gạch terrazzo hay đá granite mài bóng lộ thiên: bóng gặp mưa rất trơn, mà bóng loáng cũng lệch hẳn khỏi tinh thần gần gũi tự nhiên của mức Sō.
Shin, Gyō, Sō - ba mức trang trọng
Người Nhật xếp các mặt lát vào 3 mức, mượn từ 3 lối viết thư pháp, và cách phân này cũng dùng được cho hàng rào, đèn đá hay cách cắt cây sẽ nói ở các phần sau:


Điều đáng chú ý là một khu vườn làm chuẩn thường đi từ Shin ở ngoài cổng rồi chuyển dần sang Sō khi đi vào sâu, càng vào trong thì càng buông ra, càng gần với tự nhiên.
Cái cảm giác "vườn này nhìn lộn xộn" hay gặp, nhiều khi không phải do chọn sai vật liệu, mà do trộn cả 3 mức vào cùng 1 chỗ. Cổng làm kiểu Sō mà giữa vườn lại chêm 1 mảng Shin thì nhìn sẽ rất chỏi.
Ba khu vườn có nobedan đáng nhìn
Kōtō-in là chùa phụ thuộc quần thể Daitoku-ji ở Kyoto, do tướng Hosokawa Tadaoki lập năm 1601. Con đường nobedan ở đây thuộc loại nổi tiếng nhất Nhật Bản: hai dải biên đá cắt kẹp phần ruột ghép đá tự nhiên, chạy thẳng giữa rừng phong.
Ginkaku-ji, tức chùa Bạc, ban đầu là biệt thự nghỉ hưu do tướng quân Ashikaga Yoshimasa cho xây từ năm 1482, tới khi ông mất năm 1490 mới chuyển thành chùa Thiền. Lối đá lên dốc trong khuôn viên là ví dụ rõ cho mức Sō: toàn đá tự nhiên, không dải biên, mép ngoài men theo đúng rìa đá.
Katsura Rikyū, biệt cung Katsura, do hoàng thân Toshihito khởi công khoảng năm 1615 và con trai là Toshitada hoàn thiện tới năm 1662, lối vườn ở đây thường được gắn với tên nhà thiết kế kiêm trà nhân Kobori Enshū, dù mức độ ông trực tiếp tham gia tới đâu thì giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất. Khu vườn này nổi tiếng vì đổi liên tục giữa ba mức Shin, Gyō, Sō dọc theo các tuyến đá dẫn tới từng trà thất - đúng là ví dụ kinh điển cho nguyên tắc càng vào sâu càng buông đã nói ở trên.
Dù là phong cách nào, hay đơn giản là một lối đi, chúng chỉ hoàn thiện khi hài hòa với môi trường xung quanh. Kiên nhẫn thì sẽ có 1 bề mặt ưng ý
Tham khảo: JAANUS — Japanese Architecture and Art Net Users System (projects.mcah.columbia.edu/jaanus) · Marc P. Keane, Japanese Garden Design (Tuttle, 1996) · japanesegardening.org. Vui lòng ghi "Nguồn: canhquan.net" khi sao chép.