Giải Pritzker, giải thưởng lớn nhất của nghề kiến trúc, trao từ năm 1979 nhưng phải tới năm 2004 mới có người phụ nữ đầu tiên nhận: Zaha Hadid. Suốt 25 mùa trước đó, danh sách toàn nam giới. Hai thập niên sau, mười một người phụ nữ được kể dưới đây đã mở ra mười một hướng hành nghề khác nhau, từ quảng trường dưới gầm bảo tàng tới vật liệu do tằm dệt, và nhiều hướng trong số đó chạm thẳng vào nghề cảnh quan.
Theo danh sách của chính giải Pritzker, sau Hadid là Kazuyo Sejima (2010, cùng Ryue Nishizawa), Carme Pigem (2017, cùng hai cộng sự RCR Arquitectes), Yvonne Farrell và Shelley McNamara (2020), Anne Lacaton (2021, cùng Jean-Philippe Vassal). Sáu cái tên trong gần năm mươi năm cho thấy cánh cửa mở chậm thế nào. Mười một gương mặt dưới đây không chờ giải thưởng: mỗi người tự định nghĩa lại một phần của nghề.
Zaha Hadid là người mở đường cho cả danh sách. Công trình của bà nổi tiếng vì đường cong liền mạch, sàn trượt thành tường, tường trượt thành mái, và cách xử lý ấy lan ra cả mặt đất quanh công trình, nơi quảng trường và đồi cỏ được nắn theo cùng một nhịp cong.

Lina Bo Bardi: kiến trúc trả mặt đất cho phố
Sinh ở Rome năm 1914, sang Brazil sau Thế chiến thứ hai và mất tại São Paulo năm 1992, Lina Bo Bardi tin kiến trúc trước hết phải phục vụ đời sống thường ngày của số đông. Công trình nói rõ nhất niềm tin ấy là Bảo tàng Nghệ thuật São Paulo (MASP), xây từ 1957 đến 1968 trên đại lộ Paulista.
Thay vì đặt khối bảo tàng lên nền đất, Bo Bardi treo nó lên bốn cột bê tông sơn đỏ, vượt nhịp 74 m. Toàn bộ mặt đất bên dưới để trống, thành một quảng trường có mái che mở thẳng ra phố. Hơn nửa thế kỷ sau, khoảng trống ấy vẫn là nơi người São Paulo họp chợ, biểu diễn và trú mưa — một công trình lớn để lại gần như toàn bộ lô đất cho phố, thay vì chiếm hết nó.
Trung tâm SESC Pompéia, làm theo từng giai đoạn từ 1977 đến 1986, cải tạo một nhà máy cũ sản xuất thùng thép và tủ lạnh thành khu vui chơi, thư viện, xưởng và bể bơi cho cư dân khu lao động. Bo Bardi giữ nguyên tường gạch, vì kèo và mái cũ, chỉ chèn thêm những thứ cần thiết như một dòng nước nông chạy giữa sàn nhà xưởng.

Ngôi nhà riêng của bà, Casa de Vidro (1951), đứng trên lô đất khoảng 7.000 m² ở Morumbi. Hộp kính đặt trên cột mảnh, chìm giữa tán cây được để mọc lại thành rừng, nên từ trong nhà nhìn ra chỉ thấy lá. Năm 2021, Venice Biennale truy tặng Bo Bardi giải Sư tử Vàng đặc biệt cho sự nghiệp, nêu tên MASP, SESC Pompéia, Casa de Vidro và Teatro Oficina.

Maya Lin: khắc ký ức vào mặt đất
Năm 1981, khi 21 tuổi và còn là sinh viên Đại học Yale, Maya Lin thắng cuộc thi thiết kế Đài tưởng niệm Cựu binh Việt Nam ở Washington giữa 1.421 bài dự thi. Phương án của bà là một vết cắt vào sườn đất: hai bức tường đá granite đen đánh bóng chìm dần xuống rồi nhô lên, khắc tên hơn 58.000 người.
Không tượng, không cột, mặt đá bóng phản chiếu chính người đang đứng đọc tên cùng cỏ và trời phía sau. Công trình hoàn thành tháng 10 và khánh thành tháng 11/1982, gây tranh cãi dữ dội lúc đầu rồi dần trở thành chuẩn mực mới của thể loại tưởng niệm: địa hình và vật liệu làm việc thay cho biểu tượng.

Sự nghiệp về sau của Maya Lin đi hẳn về phía đất. Wave Field hoàn thành năm 1995 ở Đại học Michigan nắn một bãi cỏ thành những con sóng đất đều nhịp; bản lớn hơn ở Storm King Art Center, New York, hoàn thành năm 2008 trên khoảng 1,6 ha. Năm 2016, bà nhận Huân chương Tự do Tổng thống Hoa Kỳ. Cả hai bãi cỏ được nắn theo bản vẽ sóng, việc san nền ở đây làm chức năng của một tác phẩm điêu khắc.

Kazuyo Sejima: nhẹ đến mức gần như biến mất
Kazuyo Sejima lập văn phòng SANAA cùng Ryue Nishizawa năm 1995 ở Tokyo. Năm 2010, hai người cùng nhận Pritzker và Sejima trở thành người phụ nữ thứ hai nhận giải; cùng năm, bà là người phụ nữ đầu tiên được chọn làm giám đốc mảng kiến trúc của Venice Biennale, phụ trách triển lãm kiến trúc quốc tế lần thứ 12.
Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại thế kỷ 21 ở Kanazawa (1999–2004) là một vòng kính thấp không có mặt tiền hay mặt hậu, vào được từ nhiều phía. Khối nhà nằm giữa bãi cỏ phẳng như một công viên, và chính bãi cỏ ấy, với các tác phẩm nghệ thuật đặt ngoài trời, làm ranh giới giữa bảo tàng và thành phố gần như tan đi.

Rolex Learning Center ở trường EPFL, Thụy Sĩ (2005–2009), đẩy ý đó sang địa hình: cả toà nhà là một tấm sàn lượn sóng, cong lên để lối đi và cỏ luồn xuống bên dưới. Ở cả hai công trình, đường biên giữa trong nhà và ngoài trời mỏng tới mức gần như không còn phân biệt được.

Odile Decq: kẻ nổi loạn của Paris
Odile Decq lập văn phòng ODBC cùng người bạn đời Benoît Cornette. Năm 1996, theo hồ sơ của Venice Biennale, văn phòng nhận Sư tử Vàng cho phần dàn dựng gian Pháp. Hai năm sau, Cornette mất trong một tai nạn xe hơi; Decq tiếp tục một mình và chính giai đoạn này sinh ra những công trình táo bạo nhất của bà.

Phần mở rộng Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Rome (MACRO) hoàn thành năm 2010, nhà hàng Phantom trong Nhà hát Opéra Garnier năm 2011. Năm 2016, tạp chí Architects' Journal trao bà giải Jane Drew vì cách làm đa ngành, từ quy hoạch, kiến trúc tới thiết kế và nghệ thuật.

Đóng góp lâu dài nhất của Decq có lẽ là giáo dục. Năm 2014, bà mở Viện Confluence ở Lyon, một trường kiến trúc độc lập dạy theo lối liên ngành, rồi dời về Paris năm 2019; trường được RIBA công nhận năm 2017.
Amanda Levete: vật liệu và kỹ thuật chế tác đi trước
Từ 1989 đến 2009, Amanda Levete cùng Jan Kaplický điều hành Future Systems, văn phòng nhận giải Stirling năm 1999 với Trung tâm Truyền thông sân Lord's. Công trình nhiều người nhớ nhất của họ là cửa hàng Selfridges ở Birmingham, hoàn thành tháng 9/2003: một khối cong không góc cạnh phủ 15.000 đĩa nhôm anod hoá trên nền xanh.

Năm 2009, Levete lập văn phòng AL_A. Năm 2011 văn phòng thắng cuộc thi làm lối vào mới cho bảo tàng V&A trên phố Exhibition Road; công trình mở năm 2017 với một sân lát gạch sứ làm thủ công, nối phố với các phòng triển lãm ngầm bên dưới.
Cũng năm 2017, AL_A hoàn thành Bảo tàng Nghệ thuật, Kiến trúc và Công nghệ (MAAT) ở Lisbon cho Quỹ EDP. Theo trang của chính bảo tàng, mái lượn sóng là không gian công cộng miễn phí: người đi bộ bước lên, đi qua và đi dưới công trình, nối bờ sông Tagus với thành phố bằng một cầu đi bộ vượt đường sắt, chỉ phần phòng trưng bày mới cần vé. Cùng năm, bà được phong tước CBE.

Momoyo Kaijima: kiến trúc học từ đời thường
Momoyo Kaijima (sinh năm 1969) đồng sáng lập Atelier Bow-Wow ở Tokyo cùng Yoshiharu Tsukamoto. Hai cuốn sách Made in Tokyo (2001) và Pet Architecture (2007) ghi chép tỉ mỉ những công trình lai và những căn nhà tí hon chen vào kẽ hở đô thị, loại công trình mà giáo trình kiến trúc thường bỏ qua.
Từ đó nhóm phát triển phương pháp gọi là behaviorology: trước khi vẽ, quan sát xem con người, thời tiết và vật liệu quanh một chỗ đất thực sự hành xử thế nào. Tinh thần này hiện rõ ở Canal Swimmer's Club, công trình nhóm làm cùng văn phòng Dertien 12 cho Triennale Brugge 2015: theo Dezeen, đó là một sàn gỗ nổi trên phao đặt ở đoạn kênh vừa được làm sạch và mở lại cho bơi sau 40 năm cấm, để người dân xuống nước ngay giữa phố cổ.

Kaijima phụ trách gian Nhật Bản tại Venice Biennale 2018 và từ năm 2021 là giáo sư chính thức tại ETH Zurich. Bà nhận RIBA International Fellowship năm 2012 và giải Wolf về kiến trúc năm 2022.

Neri Oxman: thiên nhiên làm nhà máy
Neri Oxman lập và dẫn nhóm nghiên cứu Mediated Matter ở MIT Media Lab, làm việc ở chỗ giao nhau giữa kiến trúc, sinh học và khoa học vật liệu. Silk Pavilion năm 2013 là thí nghiệm nổi tiếng nhất: 6.500 con tằm được thả tự do lên một khung vòm bằng sợi nylon và tự nhả tơ phủ kín lớp da của gian trưng bày.

Dự án Aguahoja đi xa hơn, dựng cấu kiện bằng chitosan, một loại sợi hữu cơ tan trong nước gần giống chitin trong vỏ tôm, cua. Nhóm dừng hoạt động năm 2021; từ năm 2020 văn phòng riêng của Oxman tiếp tục cùng hướng này: vật liệu mọc ra từ sinh vật sống, rồi phân huỷ trả lại đất, thay cho bê tông và kim loại thường thấy.
Amale Andraos, Sharon Davis, Shahira Fahmy: nghề rộng hơn phòng vẽ
Amale Andraos, sinh ở Beirut năm 1973, đồng sáng lập văn phòng WORKac ở New York cùng Dan Wood năm 2003. Public Farm 1 năm 2008 ở sân MoMA PS1 dựng cả một nông trại trên mái ống giấy giữa thành phố, và các vườn học đường Edible Schoolyard ở PS216 Brooklyn và PS7 Harlem đưa việc trồng rau vào giờ học. Từ 2014 đến 2021, bà là nữ trưởng khoa đầu tiên của Trường Kiến trúc, Quy hoạch và Bảo tồn Columbia (GSAPP).
Sharon Davis đến với kiến trúc khi đã ngoài 40 tuổi. Trung tâm Cơ hội cho Phụ nữ ở Kayonza, Rwanda, do văn phòng của bà thiết kế cho tổ chức Women for Women International, mở tháng 6/2013: theo ArchDaily, 2.200 m² sàn rải trên khu đất 2 ha, có hệ thu nước mưa, nhà vệ sinh ủ phân, khí sinh học và điện mặt trời, các khối nhà xếp thành cụm như một ngôi làng Rwanda.
Shahira Fahmy lập văn phòng Shahira Fahmy Architects ở Cairo năm 2005, cùng năm nhận giải Kiến trúc sư trẻ của Thư viện Alexandria. Theo Archnet, bà nhận giải Mimar Sinan năm 2014 và giải Tamayouz Excellence năm 2019, từng là nghiên cứu viên Loeb tại Harvard GSD năm 2015, và làm cả quy hoạch, kiến trúc lẫn nội thất trong bối cảnh Trung Đông.
Điểm lặp lại: mặt đất
Không ai trong số họ thành danh bằng lối có sẵn: người đào sâu vào quan sát đời thường, người rẽ sang sinh học, người xây trường, người xây cho cộng đồng nghèo ở châu Phi. Điểm lặp lại rõ nhất là mặt đất. Quảng trường dưới MASP, bức tường chìm của Maya Lin, bãi cỏ quanh vòng kính Kanazawa, mái dạo bộ của MAAT, sàn bơi trên kênh Brugge, nông trại trên sân PS1 đều là những công trình mà phần ngoài trời quan trọng ngang phần trong nhà.
Ở Việt Nam, nơi lứa kiến trúc sư cảnh quan chính quy đầu tiên vẫn đang tự vẽ đường đi, mười một con đường trên cho thấy biên giới nghề rộng hơn phòng vẽ rất nhiều: có người bắt đầu ở tuổi 21, có người ngoài 40, và thời gian chín của mỗi con đường không giống nhau. Câu hỏi nghề này có đáng dấn thân không vẫn còn để ngỏ; mười người phụ nữ kể trên mỗi người trả lời theo một cách.
Ảnh bìa: Marcelo N Valente, CC BY-SA 4.0. Nguồn: canhquan.net.