Tài trợ | Test

SGL

Landscape Architecture

sgl.com.vn

Tài trợ | Test

Cố vấn AI

Hỏi đáp cảnh quan · gợi ý chọn cây

Miễn phí trên canhquan.net

Tài trợ | Test

Kiến Trẻ

Sân chơi của người mới vào nghề

canhquan.net/tap-chi

CÔNG TRÌNH

Paley Park: công viên túi 390 m² giữa Manhattan dựng bằng thác nước, cây và ghế rời

Paley Park là một lô đất khoảng 390 m² trên phố 53 Đông, Manhattan, kẹp giữa hai bức tường nhà cao tầng. Từ năm 1967 tới nay, mảnh sân chỉ bằng ba bốn lô nhà phố ấy vẫn được giới cảnh quan dẫn như mẫu chuẩn của công viên túi (pocket park): một bức tường nước, một lưới cây tán thưa, hai mặt tường phủ thường xuân và vài chục chiếc ghế rời.

Với người thiết kế ở các đô thị Việt Nam, nơi quỹ đất công cộng mới thường chỉ còn những khoảnh lẻ giữa phố, Paley Park đáng đọc kỹ vì mọi lớp của nó đều nhìn thấy được trên ảnh chụp: từ bậc thềm lối vào, mặt lát, tán cây, tường cây cho tới chỗ ghế được kéo ra kéo vào. Từng lớp dưới đây được đọc theo hồ sơ của The Cultural Landscape Foundation (TCLF), Project for Public Spaces (PPS) và nghiên cứu quan sát của William H. Whyte.

Một lô đất 390 m² giữa khu văn phòng Midtown

Paley Park nằm ở số 3–5 phố 53 Đông, giữa đại lộ Madison và đại lộ số 5, trên nền cũ của câu lạc bộ đêm Stork Club. Diện tích khoảng 390 m² (4.200 ft²), theo TCLF là chừng một phần mười mẫu Anh. Công viên do William S. Paley bỏ tiền qua quỹ William S Paley Foundation, dựng làm nơi tưởng niệm cha ông là Samuel Paley (1875–1963), và mở cửa ngày 23/5/1967.

Paley Park — Tấm biển đồng ghi công viên dành để tưởng
Biển đồng tưởng niệm Samuel Paley (1875–1963) ở Paley Park. Ảnh: Michael Bednarek, CC BY-SA 4.0

Quy mô này đáng để quy đổi: 390 m² tương đương bốn lô nhà phố khoảng 5 × 20 m, hay một phần sân trước của một toà chung cư. Công viên bị nhà bao ba mặt, chỉ mở một mặt ra vỉa hè. Đó là điều kiện mà người làm cảnh quan ở Hà Nội hay TP.HCM gặp thường xuyên, và cũng là lý do Paley Park được dẫn nhiều hơn các công viên lớn: nó chứng minh một khoảnh đất rất nhỏ vẫn đủ làm một nơi người ta muốn tới.

Paley Park — Paley Park nhìn từ lối vào
Lô đất nhỏ kẹp giữa nhà cao tầng, nhìn từ lối vào. Ảnh: Rhododendrites, CC BY-SA 4.0

Người thiết kế là Robert Zion (1921–2000), kiến trúc sư cảnh quan tốt nghiệp thạc sĩ kiến trúc cảnh quan tại Harvard năm 1951. Theo TCLF, Zion từng làm ở văn phòng của I. M. Pei trước khi cùng Harold Breen lập Zion & Breen Associates năm 1957. TCLF gọi Paley Park là công viên "vest-pocket" đầu tiên của New York, thành công tới mức công viên mini sau đó trở thành một phần chuẩn của quy hoạch thành phố. Năm 1968, Paley Park và toà nhà Ford Foundation cùng nhận giải Albert S. Bard Civic Award.

Ảnh lưu trữ của Cục Lưu trữ Quốc gia Hoa Kỳ (NARA) chụp tháng 6/1973 cho thấy công viên sáu năm sau khi mở: người văn phòng ngồi kín khu ghế phía sau, còn các chậu hoa ở lối vào được trồng lại theo mùa. Bố cục ấy gần như không đổi tới hôm nay.

Paley Park — Ảnh lưu trữ NARA tháng 6/1973: người trồng hoa
Trồng hoa ở lối vào Paley Park, tháng 6/1973 (ảnh lưu trữ NARA). Ảnh: Suzanne Szasz, Public domain

Lối vào: vài bậc thềm và một cánh cổng sắt

TCLF tả công viên là lùi khỏi phố và nâng cao nhẹ; PPS ghi rõ mặt sân đặt cao hơn vỉa hè vài bậc. Chênh cao nhỏ này làm hai việc cùng lúc. Nó tách khu ngồi khỏi dòng người đi bộ, đủ để người trong công viên cảm thấy đã ra khỏi phố. Nhưng vì chỉ vài bậc, người trên vỉa hè vẫn nhìn thẳng vào tận thác nước ở cuối sân, và chính tầm nhìn ấy kéo họ bước lên.

Paley Park — Bậc thềm lối vào Paley Park nhìn từ vỉa
Bậc thềm lối vào nhìn thẳng tới thác nước. Ảnh: Jim.henderson, Public domain

Hai bên lối vào là hai khối nhà nhỏ có cửa vòm; TCLF ghi một ki-ốt đồ ăn đặt ở lối vào. Ban đêm, một cánh cổng sắt trang trí khép lại để giới hạn việc ra vào. Cổng này là chi tiết người thiết kế Việt Nam nên để ý: một không gian công cộng thuộc sở hữu tư nhân vẫn cần một cách đóng lại ban đêm, và nếu cổng được vẽ ngay từ đầu thì nó trở thành một phần của mặt đứng chứ không phải hàng rào chắp vá.

Paley Park — Cổng sắt Paley Park khép lại phía trên dãy
Cổng sắt khép trên bậc thềm lối vào. Ảnh: Jim.henderson, CC BY 4.0

Nhìn ngược từ trong ra, hai khối nhà cổng cùng hai hàng cây đóng khung phố 53 như một ô cửa. Khung nhìn ấy giữ cho người ngồi vẫn cảm được nhịp phố, không bị nhốt trong một cái hộp kín.

Paley Park — Nhìn từ trong Paley Park ra phố 53: hai
Nhìn từ trong sân ra phố 53 qua hai khối nhà cổng. Ảnh: Epicgenius, CC BY-SA 4.0

Bức tường nước cao 6,1 m che tiếng phố

Toàn bộ mặt tường cuối công viên là một tấm thác nước. Theo Wikipedia, tường nước cao khoảng 6,1 m (20 ft), bơm khoảng 6.800 lít (1.800 gallon Mỹ) mỗi phút. TCLF gọi nó là yếu tố chi phối cả không gian; ban đêm thác được chiếu sáng từ phía sau.

Paley Park — Cận cảnh tường nước Paley Park: màn nước đổ
Tường nước cuối sân đổ xuống máng thấp. Ảnh: Sharon Mollerus, CC BY 2.0

Việc của thác không chỉ là để nhìn. PPS mô tả nước đổ tạo ra tiếng ồn trắng át tiếng thành phố, còn lớp thường xuân dày trên tường và tán cây thấp góp thêm phần cản âm. Trong một khe hẹp giữa các toà cao tầng, tiếng xe dội qua lại giữa các mặt tường; một nguồn âm đều, liên tục và dễ chịu đặt ở cuối sân là cách đơn giản để thay tiếng còi bằng tiếng nước.

Nước ở chân thác được thu vào một máng thấp chạy suốt chiều ngang tường, nên người ngồi có thể tới gần mép. Với khí hậu nóng ẩm, một tường nước kiểu này còn có thêm lợi thế làm dịu cảm giác nóng, nhưng cũng kéo theo chi phí vận hành bơm, lọc và xử lý rêu, cần tính trước trong hồ sơ thiết kế.

Khi đèn phía sau bật lên, tấm nước biến thành một mảng sáng vàng, và thân cây bồ kết đứng trước nó thành những nét đen. Cảnh đêm này cho thấy thác được đặt không chỉ để che âm mà còn làm phông nền cho cả lưới cây.

Paley Park — Paley Park ban đêm: tường nước được chiếu sáng
Tường nước chiếu sáng ban đêm. Ảnh: michaeltk, CC BY-SA 2.0

Mười bảy cây bồ kết Mỹ và hai bức tường thường xuân

Theo TCLF, công viên trồng mười bảy cây bồ kết Mỹ (honey locust, Gleditsia triacanthos) theo lưới trong khu ghế ngồi. Wikipedia ghi chi tiết hơn: mười hai cây đặt cách nhau 3,7 m (12 ft) và năm cây trồng thẳng trong mặt lát lối đi. Lưới cây dày đặc trên một diện tích nhỏ như vậy tạo thành một mái tán liên tục, chứ không phải vài cây rải rác.

Chọn loài cũng có lý do. Bồ kết Mỹ có lá kép lông chim với lá chét rất nhỏ, nên tán cho bóng lốm đốm chứ không tối hẳn; nhìn từ dưới lên, trời vẫn hiện qua kẽ lá. Trong một khe phố thiếu nắng, tán thưa giữ cho mặt sân không ẩm tối, và mùa đông lá rụng thì nắng lại xuống được tới ghế.

Paley Park — Nhìn ngược lên tán bồ kết Mỹ ở Paley
Tán bồ kết Mỹ nhìn từ dưới lên. Ảnh: oinonio, CC BY-SA 2.0

Hai tường bên, theo TCLF, được phủ kín bằng thường xuân Anh (Hedera helix) như những "thảm cỏ đứng". Tường cây thay cho tường gạch trần của hai toà nhà kề bên, và cùng với tán cây, khép không gian lại thành một căn phòng ngoài trời. Hoa thời vụ trồng trong chậu được thay theo mùa, thêm màu ở tầm mắt người ngồi.

Paley Park — Tường bên Paley Park phủ thường xuân
Tường thường xuân và ghế lưới trắng. Ảnh: Epicgenius, CC BY-SA 4.0

Mùa thu, cả lưới bồ kết chuyển vàng cùng lúc, và vì cây được trồng đều theo lưới nên sự đổi màu đọc thành một mảng trọn vẹn. Ở Việt Nam không có bồ kết Mỹ trong danh mục cây đường phố quen thuộc; điều chuyển được là nguyên tắc: một loài tán thưa, lá nhỏ, trồng dày theo lưới, chịu được đất hạn chế trong hố trồng giữa mặt lát.

Paley Park — Paley Park mùa thu: lưới cây bồ kết vàng
Lưới bồ kết chuyển vàng mùa thu. Ảnh: Aleksandr Zykov, CC BY-SA 2.0

Ghế rời và mặt lát đá granite

Mặt sân lát đá granite theo TCLF. Trên đó không có ghế cố định: toàn bộ là ghế lưới thép nhẹ và bàn nhỏ để rời. Theo Wikipedia, ghế là mẫu Bertoia Side Chair của Knoll sơn trắng, bàn theo thiết kế của Eero Saarinen; TCLF thì ghi bàn mặt đá cẩm thạch. PPS dùng đúng cụm "ghế và bàn lưới nhẹ, di chuyển được" khi tả công viên.

Paley Park — Mặt sân lát đá Paley Park với ghế lưới
Ghế và bàn để rời trên mặt sân lát đá. Ảnh: Epicgenius, CC BY-SA 4.0

Ghế rời là lớp thiết kế rẻ nhất mà hiệu quả nhất của Paley Park. Người tới một mình kéo ghế vào bóng cây; nhóm bạn gom ba bốn chiếc lại quanh một bàn; người muốn sưởi nắng kéo ra khoảng trống. Không gian tự sắp xếp lại theo giờ và theo người, điều mà một hàng ghế băng bắt vít xuống sàn không làm được.

Nhìn cận, chiếc ghế Bertoia là một tấm lưới thép hàn uốn cong, gần như trong suốt. Vài chục chiếc đặt cạnh nhau vẫn không làm sân trông chật, vì mắt nhìn xuyên qua chúng tới mặt lát và chân cây.

Paley Park — Cận cảnh ghế lưới thép trắng Bertoia ở Paley
Cận cảnh ghế lưới thép Bertoia. Ảnh: radworld, CC BY 2.0

Whyte và bài học từ việc quan sát người ngồi

Paley Park là một trong 18 không gian được William H. Whyte quan sát trong Street Life Project, chương trình nghiên cứu cho Uỷ ban Quy hoạch thành phố New York mà Whyte thu thập từ năm 1969. Kết quả được tổng kết trong cuốn sách và bộ phim The Social Life of Small Urban Spaces (1980). Theo Wikipedia, Paley Park và Greenacre Park được đưa vào vì là không gian công cộng lát cứng có kiểu sử dụng tương tự 16 địa điểm còn lại.

Cuốn sách có các chương riêng về chỗ ngồi, về nắng, gió, cây và nước, về đồ ăn và về quan hệ với đường phố. Đặt cạnh Paley Park, danh sách ấy đọc như bảng kiểm của chính công viên: chỗ ngồi rời, tán cây, thác nước, ki-ốt đồ ăn ở lối vào, và một mặt mở thẳng ra phố.

Công viên anh em của Paley Park là Greenacre Park ở phố 51 Đông, mở năm 1971. Theo TCLF, Greenacre do Sasaki, Dawson & DeMay thiết kế, Masao Kinoshita chủ trì, rộng khoảng 18 × 37 m (60 × 120 ft), chia nhiều bậc sân với một thác nước bậc cao khoảng 7,6 m (25 ft) và bồ kết Mỹ che sân đầu. Hai công trình cách nhau vài dãy phố cho thấy cùng một công thức có thể dựng theo hai cách khác nhau.

Đem công thức Paley Park về lô đất nhỏ ở Việt Nam

Paley Park không cần nhiều diện tích; nó cần mọi lớp được chọn đúng việc. Từ những gì đọc được trên công trình, có thể rút ra năm điểm dùng được trên bản vẽ một khoảnh đất công cộng vài trăm m².

Một, lối vào mở nhưng có ngưỡng. Vài bậc thềm và một ngưỡng rõ ràng tách khu ngồi khỏi vỉa hè, nhưng không che tầm nhìn từ phố vào tới điểm nhấn cuối sân. Với lô đất ở Việt Nam, bậc thềm còn giúp nâng nền tránh ngập khi mưa lớn.

Hai, một nguồn âm che tiếng xe. Tường nước là lời giải của Paley Park; ở khí hậu nóng ẩm, một tường nước nhỏ hơn hoặc máng tràn cũng làm được việc đó, kèm phần tính toán bơm, lọc và bảo trì.

Ba, lưới cây tán thưa trồng dày. Mười bảy cây trên 390 m² là mật độ cao. Chọn loài lá nhỏ, tán thưa, chịu được hố trồng hạn chế giữa mặt lát, để mặt sân có bóng mà không tối.

Bốn, tường bên thành tường cây. Tường nhà kề bên là thứ luôn có ở lô đất kẹp giữa phố. Phủ cây leo lên đó biến bất lợi thành lớp vỏ xanh, vừa khép không gian vừa góp phần cản âm.

Năm, ghế rời và một chỗ bán đồ ăn. Ghế nhẹ để rời cho người dùng tự sắp chỗ; một ki-ốt nhỏ ở lối vào giữ người ở lại và giữ công viên có người trông. Cánh cổng đóng ban đêm nên vẽ ngay trong mặt đứng lối vào.

Sau gần sáu mươi năm, Paley Park vẫn được dẫn không vì nó lớn hay tốn kém, mà vì mỗi thứ trong đó đều có một việc rõ ràng: bậc thềm tách phố, nước che âm, cây che nắng, tường cây khép phòng, ghế rời để người tự ngồi. Một lô đất nhỏ ở đô thị Việt Nam, nếu được thiết kế với cùng sự rành mạch ấy, hoàn toàn có thể thành một nơi người ta muốn tới mỗi ngày.

Nguồn: canhquan.net

Ảnh bìa: Rhododendrites, CC BY-SA 4.0. Nguồn: canhquan.net.

12771 Lượt xem