Tài trợ | Test

SGL

Landscape Architecture

sgl.com.vn

Tài trợ | Test

Cố vấn AI

Hỏi đáp cảnh quan · gợi ý chọn cây

Miễn phí trên canhquan.net

Tài trợ | Test

Kiến Trẻ

Sân chơi của người mới vào nghề

canhquan.net/tap-chi

TRI THỨC

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan: đọc địa hình, cây hiện hữu, đất và nước trước khi vẽ

Một bản vẽ cảnh quan chỉ tốt bằng lớp hiện trạng nằm dưới nó. Trước khi đặt một lối đi, một hồ nước hay một hàng cây, người thiết kế cần biết khu đất dốc về đâu, cây nào đang đứng và rễ của nó toả tới đâu, đất dưới chân là sét hay cát, và nước mưa đọng lại ở chỗ nào. Những thứ đó chỉ đọc được đầy đủ khi đi hiện trường.

Có bốn lớp khảo sát mà một đồ án cảnh quan không bỏ qua được: địa hình, cây hiện hữu, đất và nước. Mỗi lớp có cách đo riêng, có ngưỡng số liệu để đối chiếu, và có cách chuyển ghi chép hiện trường thành quyết định trên bản vẽ.

Vì sao khảo sát hiện trạng quyết định phần lớn bản vẽ?

Ian McHarg đặt nền cho cách làm này trong cuốn Design with Nature (1969): mỗi đặc điểm của khu đất như độ dốc, loại đất, thoát nước, thảm thực vật được vẽ thành một lớp bản đồ riêng, rồi chồng các lớp lên nhau để thấy vùng nào hợp để xây, vùng nào nên giữ. Phương pháp chồng lớp đó thường được xem là một tiền thân của các hệ thông tin địa lý (GIS), và vẫn là cách đọc khu đất phổ biến nhất trong nghề cảnh quan.

Giá trị của khảo sát nằm ở chỗ nó rẻ nhất khi làm sớm. Một cây cổ thụ phát hiện ra lúc đã chốt mặt bằng có thể buộc vẽ lại cả trục lối đi; một vùng trũng ngập nước phát hiện lúc thi công có thể biến bãi cỏ thành bãi lầy. Ngược lại, đo đủ ngay từ đầu thì chính những thứ đó trở thành điểm tựa của thiết kế: cây lớn làm tâm của sân, vùng trũng thành hồ điều hoà hay vườn mưa.

Địa hình: cao độ, độ dốc và hướng nước chảy

Lớp đầu tiên là bản đồ cao độ. Với khu đất nhỏ, đội đo dùng máy toàn đạc điện tử hoặc máy thu GPS đo điểm theo lưới và theo các đường gãy địa hình như mép taluy, đáy rãnh, chân tường, mép đường hiện hữu. Người thiết kế nên đi cùng đội đo ít nhất một buổi để chỉ những điểm cần đo dày: gốc cây lớn, miệng cống, vệt trũng, những chỗ trên ảnh vệ tinh không thấy được.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Máy toàn đạc nhìn xuống khu đất đang san
Máy toàn đạc nhìn xuống khu đất đang san nền của dự án nhà ở. Ảnh: Cvstr, CC BY 4.0

Từ các điểm đo, bản đồ đường đồng mức cho ra bản đồ độ dốc, và bản đồ độ dốc cho ra câu trả lời đầu tiên về lối đi. Tiêu chuẩn tiếp cận ADA 2010 của Hoa Kỳ, do Uỷ ban Tiếp cận Hoa Kỳ (U.S. Access Board) công bố, quy định lối đi thường không dốc quá 1:20 (5%), đoạn dốc (ramp) không dốc quá 1:12 (khoảng 8,3%), và độ dốc ngang của cả hai không quá 1:48 (khoảng 2%). Tô màu bản đồ độ dốc theo ba ngưỡng đó là thấy ngay chỗ nào đi thẳng được, chỗ nào phải uốn lối, chỗ nào phải làm bậc.

Hai nhóm thông tin nữa nên ghi trong buổi đo: cao độ các điểm đấu nối (miệng hố ga, cốt vỉa hè, cốt sàn nhà hiện hữu) và hướng nước chảy tràn trên mặt. Một mũi tên vẽ tay trên bản đồ hiện trạng, chỉ nước mưa chảy từ đâu tới đâu, thường có ích cho khâu san nền hơn cả một bảng cao độ dày đặc.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Hai người đo bên máy toàn đạc
Hai người đo bên máy toàn đạc. Ảnh: Frank C. Müller, CC BY-SA 4.0

Cây hiện hữu: đo thân, xếp hạng và vẽ vùng bảo vệ rễ

Mỗi cây đáng kể trên khu đất cần một dòng trong bảng khảo sát: số hiệu gắn trên thân, tên loài, đường kính thân, chiều cao, bán kính tán theo bốn hướng, tình trạng sức khoẻ và ghi chú về khuyết tật như rỗng thân, nứt chạc, nghiêng. Đường kính đo bằng thước dây đo đường kính quấn quanh thân ở một độ cao cố định để số liệu các cây so sánh được với nhau.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Thước dây đo đường kính quấn quanh thân cây
Thước dây đo đường kính quấn quanh thân cây táo cổ. Ảnh: NPS, Public domain

Tiêu chuẩn Anh BS 5837:2012 (cây trong quan hệ với thiết kế, phá dỡ và xây dựng) là khung được dùng rộng nhất cho việc này. Tiêu chuẩn xếp cây thành các hạng A, B, C theo giá trị giữ lại và hạng U cho cây nên chặt bỏ, rồi tính vùng bảo vệ rễ (root protection area). Theo tóm lược của tổ chức Woodland Trust, với cây một thân, vùng bảo vệ rễ là diện tích bằng hình tròn có bán kính gấp 12 lần đường kính thân đo ở độ cao 1,5 m, và được chặn trần ở 707 m², tương ứng bán kính 15 m.

Áp vào số thực: một cây có thân 0,5 m cần vòng bảo vệ bán kính khoảng 6 m, tức gần 113 m² không được đào, đổ vật liệu hay cho xe chạy qua. Vẽ các vòng này lên bản đồ hiện trạng trước khi phác mặt bằng sẽ cho thấy ngay cây nào giữ được với bố cục dự định, cây nào xung đột với móng, đường ống hay lối xe.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Hàng cây thánh liễu cũ giữ lại giữa công
Hàng cây thánh liễu cũ giữ lại giữa công trường đường dạo Cala Millor. Ảnh: Steffen Mokosch, CC BY-SA 4.0

Cây cổ thụ giữ lại thường trở thành phần giá trị nhất của khu đất khi công trình xong. Một cây trăm năm không trồng lại được trong vòng đời dự án, nên khi bảng khảo sát cho thấy xung đột, hướng xử lý hợp lý thường là dời lối đi hay đổi cốt nền quanh gốc, không phải chặt cây.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Cây cổ thụ giữ lại trên sân đất cạnh
Cây cổ thụ giữ lại trên sân đất cạnh Seokbinggo. Ảnh: Steve46814, CC BY-SA 3.0

Bảo vệ cây giữ lại ngay từ ngày đầu thi công

Khảo sát chỉ có ý nghĩa nếu vùng bảo vệ rễ được giữ nguyên ngoài công trường. Cách làm phổ biến ở châu Âu là dựng rào cứng quanh vùng bảo vệ rễ trước khi máy vào, cấm để vật liệu, cấm đào và cấm xe chạy bên trong. Trên hè phố chật không rào được cả vòng, thân cây ít nhất được bọc ván để gầu máy và xe tải không va vào vỏ.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Rào gỗ quanh gốc cây trên hè phố cạnh
Rào gỗ quanh gốc cây trên hè phố cạnh công trường. Ảnh: Giftzwerg 88, CC BY-SA 4.0

Vì vậy bản vẽ hiện trạng nên có riêng một tờ bảo vệ cây: vị trí rào, lối xe công trường đi vòng ngoài vùng rễ, bãi tập kết vật liệu đặt xa gốc. Tờ này đi cùng hồ sơ mời thầu để chi phí rào và bọc thân được tính từ đầu, không bị cắt ở phút cuối.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Thân cây bọc ván gỗ chống va chạm ở
Thân cây bọc ván gỗ chống va chạm ở một công trường tại Đức. Ảnh: Apostoloff, CC BY-SA 3.0

Đất: đào phẫu diện, khoan mẫu và đọc màu

Lớp đất quyết định cây nào sống, nền nào lún và nước rút nhanh hay chậm. Cách đọc trực tiếp nhất là đào một hố phẫu diện sâu khoảng một mét ở vài điểm đại diện, dựng thước đo dọc thành hố rồi ghi độ dày từng tầng: tầng mặt giàu mùn, tầng sét tích tụ, tầng đá hay cát bên dưới. Ở những điểm không đào được, ống khoan tay lấy mẫu từng đoạn để xem màu và cảm nhận thành phần hạt.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Hố phẫu diện đất đỏ dựng thước đo độ
Hố phẫu diện đất đỏ dựng thước đo độ dày từng tầng. Ảnh: Cjrufe, CC0

Màu đất còn cho biết nước ngầm. Theo tài liệu khuyến nông của Đại học Bang North Carolina (NC State Extension), các vệt xám và gỉ sắt trong phẫu diện, gọi là dấu hiệu oxi hoá khử, hình thành khi đất bị bão hoà nước lặp đi lặp lại qua nhiều mùa. Độ sâu bắt đầu xuất hiện các vệt này vì thế là chỉ dấu mực nước ngầm cao theo mùa, thông tin quan trọng khi quyết định có làm vườn mưa, hồ thấm hay trồng cây không chịu úng ở đó hay không.

Mẫu đất lấy từ hố và từ ống khoan nên được gửi phân tích thành phần hạt, độ chua và chất hữu cơ nếu dự án có diện tích trồng lớn. Với đồ án nhỏ, ghi chép màu, độ ẩm và cảm giác dẻo hay rời khi bóp trong tay đã đủ để nhận ra đất sét nặng hay đất cát, hai cực đòi hỏi cách chọn cây và cách thoát nước khác hẳn nhau.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Mẫu đất sẫm màu vừa lấy lên bằng ống
Mẫu đất sẫm màu vừa lấy lên bằng ống lấy mẫu. Ảnh: USDA NRCS South Dakota, Public domain

Nước: đi site sau mưa và thử thấm trước khi vẽ vườn mưa

Bản đồ cao độ cho biết nước lẽ ra chảy về đâu; một buổi đi site ngay sau trận mưa lớn cho biết nước thật sự nằm ở đâu. Những vũng đọng trên bãi cỏ, vệt ướt dài dọc lối mòn, chỗ bùn đọng trước cống là thông tin rất khó thấy vào ngày nắng, và thường nằm lọt giữa hai điểm đo cao độ.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Vũng nước dọc lối mòn và vệt đọng trên
Vũng nước dọc lối mòn và vệt đọng trên bãi cỏ sau mưa. Ảnh: Mick Garratt, CC BY-SA 2.0
Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Vũng nước đọng giữa sân cỏ sau mưa lộ
Vũng nước đọng giữa sân cỏ sau mưa lộ vùng trũng. Ảnh: Derek Harper, CC BY-SA 2.0

Những vùng đọng nước đó là ứng viên tự nhiên cho vườn mưa hay rãnh thấm, nhưng chỉ khi đất bên dưới còn thấm được. Hướng dẫn của chương trình NEMO, Đại học Connecticut, mô tả phép thử đơn giản: đào hố sâu 6–8 inch (khoảng 15–20 cm) ở chỗ định làm vườn, đổ đầy nước rồi xem lại sau 6 giờ. Nước rút hết trong 6 giờ là chỗ hợp; từ 6 đến 24 giờ thì dùng được nhưng có thể phải cải tạo đất; còn đọng sau 24 giờ thì nên chọn chỗ khác.

Cùng tài liệu đó lưu ý đặt vườn mưa cách nhà có tầng hầm ít nhất 10 feet (khoảng 3 m), không đặt trên hệ tự hoại và không đặt gần giếng nước sinh hoạt. Với khu đất rộng, phép thử nên làm ở vài điểm vì tốc độ thấm có thể khác nhau nhiều chỉ trong vài chục mét; các dự án lớn thường dùng thiết bị vòng thấm để đo tốc độ chính xác hơn.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Đóng vòng kim loại xuống đất để làm phép
Đóng vòng kim loại xuống đất để làm phép thử thấm. Ảnh: USDA NRCS South Dakota, Public domain

Trên sườn dốc, dấu vết của nước là rãnh xói. Rãnh nhỏ song song trên mặt taluy trần, vết đất trôi phủ chân dốc, rễ cây lộ ra ở mép rãnh cho biết nơi dòng chảy mặt đang mạnh nhất. Chụp và định vị các vết này trong khảo sát giúp đặt đúng chỗ các rãnh đón nước, bậc giảm tốc và thảm cây giữ đất.

Khảo sát hiện trạng khu đất cảnh quan — Sườn đất sét đỏ bị nước mưa xói thành
Sườn đất sét đỏ bị nước mưa xói thành rãnh. Ảnh: Mottenpriesterin, CC BY-SA 4.0

Từ sổ ghi hiện trường tới bản đồ hiện trạng tổng hợp

Kết quả cuối của khảo sát không phải là bốn tập hồ sơ rời mà là một bản đồ hiện trạng tổng hợp theo đúng tinh thần chồng lớp của McHarg: đường đồng mức và vùng dốc tô màu theo ngưỡng lối đi, vòng bảo vệ rễ của từng cây theo hạng giữ lại, các điểm phẫu diện kèm độ sâu vệt nước ngầm, vùng đọng nước sau mưa và kết quả thử thấm. Đặt bản đồ đó dưới tờ phác thảo đầu tiên, phần lớn các quyết định bố cục sẽ tự lộ ra.

Một danh sách kiểm ngắn cho mỗi lần đi site: mang theo bản in ảnh vệ tinh và bản đồ cao độ hiện có; đánh số và chụp từng cây lớn; đo đường kính thân ở cùng một độ cao; đào hoặc khoan ít nhất vài điểm đất; làm phép thử thấm ở chỗ định làm vườn mưa; và nếu có thể, quay lại một lần ngay sau trận mưa lớn. Những giờ đi bộ trên khu đất đó là phần rẻ nhất của cả dự án.

Ảnh bìa: Cvstr, CC BY 4.0. Nguồn: canhquan.net.

962 Lượt xem