Cây bản địa là loài mọc tự nhiên trong vùng sinh thái nơi công trình đứng, đã sống cùng côn trùng, chim, đất và nhịp mưa nắng ở đó qua hàng nghìn năm. Với công viên và khu dân cư ở Việt Nam, chọn cây bản địa không phải chuyện hoài cổ: đó là cách rẻ nhất để một mảng xanh vừa nuôi được chim, vừa chịu được mùa úng, mùa khô mà không cần chăm quá tay.
Người thiết kế thường gặp bốn câu hỏi: cây bản địa khác cây ngoại lai ở chỗ nào về mặt sinh thái, nó hút chim và côn trùng thật tới mức nào, loài nào chịu hạn chịu úng tốt, và phối chúng ra sao trong một công viên hay một khu nhà ở. Nghiên cứu sinh thái đô thị hai thập niên qua đã trả lời được khá nhiều phần.
Cây bản địa và cây ngoại lai khác nhau ở đâu?
Ranh giới không nằm ở chỗ cây đẹp hay xấu, mà ở quan hệ với phần còn lại của hệ sinh thái. Một loài bản địa như sao đen (Hopea odorata) hay dầu rái (Dipterocarpus alatus) có cả một mạng côn trùng ăn lá, nấm rễ cộng sinh và chim ăn hạt đã tiến hoá cùng nó. Một loài ngoại lai, dù sinh trưởng tốt, thường đứng một mình: sâu bọ địa phương không nhận ra nó là thức ăn, nên nó sạch lá nhưng cũng ít nuôi được ai.

Ở Việt Nam, nhiều cây đường phố quen mặt thực ra là ngoại lai. Xà cừ (Khaya senegalensis) có nguồn gốc châu Phi; phượng vĩ (Delonix regia) đến từ Madagascar; muồng hoàng yến (Cassia fistula) thì bản địa Nam Á và Đông Nam Á lục địa. Ngoại lai không đồng nghĩa với có hại. Phần lớn cây cảnh ngoại lai chỉ trung tính về sinh thái; một số ít vượt rào, tự lan và trở thành loài xâm hại, như sẽ thấy ở mục sau.

Vì vậy câu hỏi đúng khi chọn cây không phải là bản địa hay không, mà là tỷ lệ: trong tổng sinh khối cây của một khu đất, bao nhiêu phần trăm là loài có quan hệ thức ăn với côn trùng và chim địa phương. Con số đó đã được đo.
Chim và côn trùng cần cây bản địa tới mức nào?
Nhóm của Douglas Tallamy ở Đại học Delaware là nơi đo chuyện này kỹ nhất. Tallamy và Shropshire (2009, Conservation Biology) tra toàn bộ ghi chép cây chủ đã công bố và xếp hạng cả 1.385 chi thực vật ở các bang Trung Đại Tây Dương, Hoa Kỳ theo số loài bướm, ngài mà chúng nuôi: cây thân gỗ nuôi nhiều loài hơn cây thân thảo, cây bản địa nuôi nhiều loài hơn cây nhập nội, và ngay cả khi chỉ so cây gỗ làm cảnh với nhau thì cây bản địa vẫn hơn.
Burghardt, Tallamy và Shriver (2009, Conservation Biology) so sáu cặp nhà vườn ngoại ô ở Pennsylvania: một nhà trồng toàn cây bản địa, một nhà trồng kiểu thông thường với tán bản địa nhưng bụi và thảm nền ngoại lai. Tổng độ phủ và độ đa dạng cây như nhau, nhưng vườn bản địa có nhiều sâu non và nhiều loài sâu non hơn hẳn, nhiều chim hơn cả về số lượng lẫn số loài, và các loài chim cần bảo tồn trong vùng xuất hiện nhiều gấp tám lần.
Nghiên cứu nối thẳng tới quần thể chim là của Narango, Tallamy và Marra (2018, PNAS). Theo dõi chim bạc má Carolina ở vùng Washington DC, nhóm tác giả thấy vườn nhà trồng chủ yếu cây ngoại lai có ít côn trùng và chân khớp hơn; chim bố mẹ phải đổi sang mồi kém hơn, nuôi được ít con hơn hoặc bỏ hẳn việc làm tổ, và quần thể chỉ tự duy trì được ở những vườn có trên 70% sinh khối cây là loài bản địa.
Một phát hiện nữa làm việc chọn cây dễ hơn: Narango, Tallamy và Shropshire (2020, Nature Communications) gom dữ liệu cây chủ trên toàn lục địa Hoa Kỳ và cho thấy ở mọi hệ sinh thái, một tỷ lệ nhỏ các chi cây nuôi phần lớn số loài bướm, ngài; danh sách các chi cây then chốt này khá giống nhau giữa các vùng. Nghĩa là không cần trồng mọi loài bản địa; chỉ cần đưa đúng nhóm cây chủ chốt vào khung cây của dự án.
Các số liệu trên đo ở Bắc Mỹ. Đông Nam Á chưa có nghiên cứu cùng thiết kế, nên không thể lấy nguyên ngưỡng 70% áp cho Hà Nội hay TP.HCM. Điều chuyển được là cơ chế: chim ăn côn trùng nuôi con bằng sâu non, và sâu non phần lớn chỉ ăn lá những cây nó đã tiến hoá cùng.
Sung, si, gạo: những cây mồi cho chim ở Đông Nam Á
Ở vùng nhiệt đới châu Á, nhóm cây nuôi chim mạnh nhất là chi đa, sung, si (Ficus). Shanahan, So, Compton và Corlett (2001, Biological Reviews) tổng hợp ghi chép từ hơn 75 nước và thấy 1.274 loài chim và thú ăn quả sung, si. Các họ chim ăn nhiều nhất gồm bồ câu, vẹt, chào mào, hồng hoàng và sáo, đúng những loài quen thuộc trong vườn Việt Nam.

Giá trị của Ficus nằm ở nhịp ra quả: mỗi cây ra quả lệch mùa với cây bên cạnh, nên trong một quần thể luôn có cây đang chín. Một hàng sung, một gốc đa lông hay si trong công viên vì thế là nguồn thức ăn cho chim vào cả những tháng ít quả nhất.

Gạo (Bombax ceiba) đóng vai tương tự vào mùa khô: cây rụng lá rồi nở hoa đỏ trên cành trơ, mật hoa hút sáo, chào mào, quạ và nhiều loài chim khác tới ăn. Trong một khu dân cư, một cây gạo đặt ở mép bãi cỏ tạo được cả điểm nhấn mùa xuân lẫn một trạm dừng cho chim.

Chịu úng, chịu phèn: bài học từ tràm, dầu và lộc vừng
Lợi thế thứ hai của cây bản địa là đã quen chế độ nước địa phương. Đồng bằng sông Cửu Long là ví dụ rõ nhất: tràm (Melaleuca cajuputi) từng phủ phần lớn khoảng 1,5 triệu ha đất phèn ngập theo mùa, tập trung ở bán đảo Cà Mau, tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười. Các nghiên cứu về tràm trên đất phèn ghi nhận loài này chịu được ngập kéo dài và đất chua mạnh, còn rừng tràm sống còn góp phần nâng pH nước mặt.

Rừng tràm Trà Sư ở An Giang là một cảnh quan dựng lại bằng chính loài này: theo Trang thông tin quốc gia về bảo tồn thiên nhiên, tràm được trồng từ năm 1983 để cải tạo đất phèn, nay là rừng ngập nước mùa lũ với lối xuồng và cầu tre xuyên tán. Với người làm cảnh quan, Trà Sư cho thấy một loài bản địa đúng chỗ tự lo được phần khó nhất (đất phèn, ngập sâu), phần thiết kế chỉ còn là tổ chức lối đi và điểm nhìn.
Dầu rái (Dipterocarpus alatus) thường mọc thành đám dọc bờ sông ở vùng thấp Đông Nam Á, chịu được ngập nhưng cần đất thoát nước, không ưa gió bão mạnh hay cháy. Đây là lý do những hàng dầu rái và sao đen hợp với nền đất phù sa ẩm của các đô thị Nam Bộ: đó là môi trường gốc của chúng, miễn hố trồng không bị đọng nước quanh năm.

Cho mép hồ, rãnh thấm và vùng trũng giữ nước mưa, lộc vừng (Barringtonia acutangula) là loài bản địa quen thuộc của các bờ kênh rạch Nam Bộ, chịu ngập chân và cho chùm hoa đỏ rủ xuống mặt nước. Bằng lăng nước (Lagerstroemia speciosa) cũng mọc tự nhiên ở vùng đất ẩm, hợp cho dải cây quanh hồ điều hoà.


Khi cây ngoại lai vượt rào thành loài xâm hại
Mặt trái của cây ngoại lai hiện rõ nhất ở Vườn quốc gia Tràm Chim, Đồng Tháp. Mai dương (Mimosa pigra), cây bụi gốc Trung và Nam Mỹ, xuất hiện vài bụi nhỏ vào năm 1984–1985, lan ra 150 ha năm 1994, rồi tăng gần gấp đôi mỗi năm từ 2000: khoảng 490 ha năm 2000, 960 ha năm 2001, 1.845 ha năm 2002, và vượt 2.000 ha vào năm 2006. Theo thông cáo báo chí của UNDP Việt Nam (tháng 7/2025), nhờ kết hợp điều tiết thuỷ văn và biện pháp sinh thái, diện tích nhiễm giảm còn 22 ha vào năm 2024.

Mai dương và bèo tây (Eichhornia crassipes) đều có tên trong Danh mục loài ngoại lai xâm hại ban hành kèm Thông tư 35/2018/TT-BTNMT (hiệu lực từ 11/02/2019), cùng bốn loài thực vật khác. Người thiết kế cảnh quan nên đối chiếu danh mục này trước khi đưa bất kỳ loài nào vào hồ cảnh, rãnh sinh học hay mảng cây tự nhiên hoá.

Bài học cho công viên đô thị: chính những mảng cảnh quan "hoang dã" (bãi cỏ ven hồ, bờ kênh tự nhiên hoá) lại là nơi loài xâm hại dễ bám nhất, vì ít bị cắt tỉa. Khung cây bản địa dày ngay từ đầu là cách phòng thủ rẻ hơn nhiều so với nhổ bỏ về sau.
Bishan–Ang Mo Kio: công viên đô thị làm lại bằng sông tự nhiên
Ví dụ đô thị gần Việt Nam nhất là công viên Bishan–Ang Mo Kio ở Singapore. Từ năm 2009, trong một dự án kéo dài ba năm, đoạn kênh bê tông của sông Kallang chạy qua công viên được phá bỏ và làm lại thành dòng sông uốn khúc, dài từ 2,7 km lên 3,2 km, bờ gia cố bằng kỹ thuật sinh học (cây, bó cành, đá) thay cho tường bê tông.

Theo các tổng hợp về dự án, đa dạng sinh học trong công viên tăng khoảng 30% sau khi trồng; tới nay đã ghi nhận 66 loài hoa dại, 59 loài chim và 22 loài chuồn chuồn. Năm 2015, một gia đình rái cá lông mượt, loài từng được coi là đã biến mất khỏi Singapore, xuất hiện trong công viên.
Điều đáng học ở Bishan không phải là danh sách loài mà là thứ tự làm: trả lại hình dạng tự nhiên cho dòng nước trước, rồi để thảm cây ven bờ phủ lên. Bãi cỏ vẫn được cắt cho người dùng, nhưng dải sát mép nước để cây mọc cao, làm chỗ trú cho chim và chuồn chuồn.

Phối cây bản địa trong công viên và khu dân cư thế nào?
Từ các nghiên cứu trên, có thể rút ra năm nguyên tắc dùng được ngay trên bản vẽ trồng cây.
Một, đặt tỷ lệ bản địa làm chỉ tiêu. Đếm theo sinh khối hoặc theo số cây tầng cao, không đếm theo số loài. Ngưỡng 70% của Narango và cộng sự (2018) là mốc tham khảo hợp lý; các loài ngoại lai làm điểm nhấn hoa vẫn dùng được trong phần còn lại.
Hai, dựng đủ tầng. Tán cao (dầu, sao, gạo, sến xanh), tầng giữa (bằng lăng, lộc vừng, vối), tầng bụi và thảm nền. Vườn bản địa trong nghiên cứu của Burghardt (2009) hơn vườn thường chính ở tầng bụi và thảm nền, không phải ở tán.
Ba, chọn cây chủ chốt trước. Theo Narango và cộng sự (2020), một nhóm nhỏ chi cây nuôi phần lớn số loài sâu non. Ở Việt Nam, Ficus là ứng viên rõ nhất cho chim ăn quả; mỗi công viên nên có ít nhất một cụm sung, si hoặc đa đặt xa lối đi chính để quả rụng không làm bẩn mặt lát.
Bốn, xếp cây theo nước. Vùng trũng và mép hồ dùng tràm, lộc vừng, bằng lăng nước; gò cao và dải đất thoát nhanh dùng dầu, sao, muồng hoàng yến. Đây là cách để cây bản địa tự lo phần tưới, và cũng là logic của Trà Sư hay Bishan.
Năm, kiểm danh mục xâm hại. Trước khi chốt bảng thống kê cây, rà từng loài với Thông tư 35/2018/TT-BTNMT, đặc biệt các loài thuỷ sinh cho hồ cảnh.
Khung cây bản địa không phải khung cây cứng: nó chỉ đặt lại điểm xuất phát. Dự án vẫn có chỗ cho hoa ngoại lai và cây điểm nhấn, miễn phần xương sống, gồm tán cao, dải ven nước và cụm cây chủ chốt, là loài đã sống ở đây trước khi công trình tới.
Nguồn: canhquan.net
Ảnh bìa: Namhoainguyen Nam, CC BY-SA 4.0. Nguồn: canhquan.net.