Tài trợ | Test

SGL

Landscape Architecture

sgl.com.vn

Tài trợ | Test

Cố vấn AI

Hỏi đáp cảnh quan · gợi ý chọn cây

Miễn phí trên canhquan.net

Tài trợ | Test

Kiến Trẻ

Sân chơi của người mới vào nghề

canhquan.net/tap-chi

TRI THỨC

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô thị: khoảng cách, ô trồng, tầng ngầm, tầm nhìn giao lộ và chọn tán

Một hàng cây đường phố sống được năm mươi năm hay chết sau mười năm thường đã được quyết định từ bản vẽ mặt cắt, trước khi chọn loài. Năm con số quyết định chuyện đó: bề rộng vỉa hè, khoảng lùi thân cây khỏi mép bó vỉa và góc phố, kích thước ô trồng, thể tích đất dưới mặt lát, và độ cao phân cành của tán. Các con số ấy có trong tiêu chuẩn Việt Nam, có trong nghiên cứu làm vườn đô thị, và đọc được ngay trên những tuyến phố thật như Hoàng Diệu ở Hà Nội, Lê Duẩn và Tôn Đức Thắng ở TP.HCM, đại lộ Montaigne ở Paris hay phố Collins ở Melbourne.

Bề rộng vỉa hè quyết định cỡ cây trước khi chọn loài

Bộ Xây dựng chia cỡ cây theo bề rộng hè phố trong Thông tư 20/2005/TT-BXD hướng dẫn quản lý cây xanh đô thị, ở phần trồng cây xanh đô thị (Phần II, mục II). Phần này vẫn còn hiệu lực: Thông tư 05/2021/TT-BXD (hiệu lực từ 15/8/2021) chỉ bãi bỏ mục V Phần I, mục I và mục IV Phần II của Thông tư 20/2005/TT-BXD, cùng Điều 2 và Điều 3 của Thông tư 20/2009/TT-BXD sửa đổi nó. Nguyên tắc của hướng dẫn là hè càng hẹp thì cây càng nhỏ. Cụ thể, theo Thông tư 20/2005/TT-BXD (phần còn hiệu lực sau Thông tư 05/2021/TT-BXD): hè phố dưới 3 m, đường cải tạo, bị khống chế mặt bằng chỉ nên tận dụng cây hiện có, trồng ở chỗ thưa công trình, hoặc trồng dây leo theo trụ và đặt chậu; hè từ 3 m đến 5 m nên trồng cây loại 1 hoặc loại 2 (tiểu mộc, trung mộc); hè trên 5 m nên trồng cây loại 2 hoặc loại 3 (trung mộc, đại mộc). Khung pháp lý phía trên nay là Nghị định 258/2025/NĐ-CP về quản lý công viên, cây xanh, mặt nước, có hiệu lực từ ngày ký 9/10/2025. Điều 47 của nghị định này bãi bỏ Nghị định 64/2010/NĐ-CP về quản lý cây xanh đô thị, đồng thời cho các danh mục cây trồng, cây cấm trồng, cây trồng hạn chế mà UBND cấp tỉnh đã ban hành theo Nghị định 64/2010/NĐ-CP tiếp tục được dùng cho tới khi cần thay đổi, bổ sung.

Chia như vậy vì cỡ cây trưởng thành phải lọt vào khoảng không mà mặt cắt phố cho phép. Một cây đại mộc tán rộng 12–15 m trồng trên hè 3 m sẽ có nửa tán đè lên mặt tiền nhà và nửa kia chìa ra lòng đường, buộc phải cắt tỉa lệch mỗi mùa mưa bão. Một cây tiểu mộc trồng trên hè 8 m thì ngược lại, không bao giờ phủ nổi mặt đường. Người thiết kế nên vẽ tán ở tuổi trưởng thành lên mặt cắt ngang của tuyến, chứ không vẽ theo kích thước cây giống lúc trồng.

Đường Hoàng Diệu ở Hà Nội là ví dụ đúng tỉ lệ: lòng đường rộng, vỉa hè và dải giữa đủ bề ngang cho những cây đại mộc thân lớn, tán hai bên chụm lại thành vòm. Ở đoạn có dải phân cách lát gạch, một hàng cây đứng giữa hai chiều xe, tán phủ cả hai lòng đường. Mặt cắt cho phép cây lớn thì cây mới lớn được mà không phá hạ tầng.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Hoàng Diệu: hàng cây trên dải phân cách lát
Hoàng Diệu: hàng cây trên dải phân cách lát gạch. Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0
Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Đường Hoàng Diệu
Đường Hoàng Diệu, Hà Nội: tán hai bên khép thành vòm. Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0

Khoảng cách: tới mép bó vỉa, góc phố, họng cứu hoả và giữa các cây

Cũng phần trồng cây ấy đặt một bộ khoảng lùi cho cây trên hè, theo Thông tư 20/2005/TT-BXD (phần còn hiệu lực sau Thông tư 05/2021/TT-BXD): cây cách mép lề đường 0,6–1,0 m tuỳ loại cây; cách góc phố 5–8 m tính từ điểm lề đường giao nhau gần nhất; cách họng cứu hoả trên đường 2–3 m; cách cột đèn chiếu sáng và miệng hố ga 1–2 m; cách mạng lưới đường dây, đường ống kỹ thuật (cấp nước, thoát nước, cáp ngầm) 1–2 m. TCVN 9257:2012 (Quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị – Tiêu chuẩn thiết kế, thay thế TCXDVN 362:2005) nêu thêm cây thân gỗ cách tường nhà và công trình 2–5 m, cách mạng đường ống ngầm 1–2 m.

Khoảng lùi khỏi mép bó vỉa là con số dễ bị làm sai nhất. Trồng sát hơn thì cửa xe con mở ra đập vào thân, thùng xe tải và xe buýt quệt vào tán khi tấp vào lề, rễ phình ra đội luôn bó vỉa. Trồng lùi quá sâu vào hè thì tán lệch về phía nhà và lối đi bộ bị kẹp giữa thân cây với bậc thềm. Trên thực địa, cách kiểm tra đơn giản là đứng ở mép bó vỉa, đo tới tâm thân cây và so với cỡ cây ghi trong hồ sơ.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Tôn Đức Thắng
Tôn Đức Thắng, TP.HCM: cây lớn trên dải cỏ sau bó vỉa. Ảnh: trungydang, CC BY 3.0

Khoảng cách giữa hai cây trên cùng hàng thì không có một con số chung, vì phụ thuộc đường kính tán trưởng thành. Nguyên tắc dễ dùng là đặt cây sao cho tán hai cây kề nhau vừa chạm hoặc chồng nhẹ khi trưởng thành: bóng mát liên tục, không có khoảng nắng gắt giữa hai tán, mà cũng không trồng dày tới mức cây tranh sáng và vươn cao, thân gầy. Khoảng cách này cần khớp với nhịp cột đèn, lối xe vào nhà và điểm dừng xe buýt ngay trên bản vẽ tổng mặt bằng, không để tổ thi công tự dịch cây tại chỗ.

Ô trồng cây: 1,2 mét là mức sàn, không phải mức đủ

TCVN 9257:2012 quy định lỗ để trống trên mặt lát cho cây hàng trên hè tối thiểu 1,2 × 1,2 m nếu vuông, hoặc đường kính tối thiểu 1,2 m nếu tròn. Con số này là diện tích mở để nước mưa và khí xuống tới đất, không phải lượng đất cây cần. Nhiều công trình hiểu nhầm, đào đúng một hố 1,2 × 1,2 × 1 m rồi đầm chặt lớp nền chung quanh để lát gạch, khiến cây sống trong một cái chậu bê tông chìm dưới đất.

Ô trồng có nhiều kiểu, mỗi kiểu một cái giá. Ô tròn có bó vỉa nâng như trên phố Kateřinská ở Praha giữ lớp phủ sỏi không trôi ra mặt đường và ngăn xe cán lên gốc, nhưng chặn luôn nước mưa chảy tràn từ mặt lát vào. Ô chữ nhật dài chạy dọc bó vỉa, như các hố mới cắt trên vỉa hè Woodhaven Boulevard ở New York, cho rễ nhiều mặt thoáng hơn. Nắp lưới gang (tree grate) cho người đi qua được trên ô, nhưng phải tháo được và nới lỗ giữa khi thân lớn, nếu không chính cái nắp sẽ siết cổ cây.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Woodhaven Boulevard
Woodhaven Boulevard, New York: ô trồng chữ nhật mới cắt. Ảnh: Tdorante10, CC BY-SA 4.0
Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Phố Kateřinská
Phố Kateřinská, Praha: ô trồng tròn có bó vỉa, phủ sỏi. Ảnh: Juandev, CC BY-SA 4.0

Một chi tiết hay bị bỏ quên là mặt ô trồng nên thấp hơn mặt lát vài centimét và không lát kín đến sát gốc. Ô trồng cao hơn mặt lát thì nước mưa chảy ra ngoài, ô trồng bị trám vữa hay đổ bê tông quanh gốc thì cây vừa khát nước vừa ngạt khí, và thân cây lớn lên sẽ nứt vỡ luôn phần vữa đó.

Tầng ngầm: đất cho rễ, đường ống, và vì sao vỉa hè bị nâng

Phần quyết định tuổi thọ cây nằm dưới mặt lát. Lindsey và Bassuk (1991, Journal of Arboriculture 17(6)) đề xuất khoảng 2 ft³ đất cho mỗi ft² hình chiếu tán, tương đương khoảng 0,6 m³ đất trên mỗi mét vuông tán. Một cây có tán trưởng thành đường kính 8 m, hình chiếu khoảng 50 m², cần cỡ 30 m³ đất tơi; một hố 1,2 × 1,2 × 1 m chỉ có chưa tới 1,5 m³. Khoảng chênh ấy giải thích vì sao nhiều hàng cây mới trồng đứng yên vài năm rồi héo ngọn dù được tưới đều.

Khi không có đất tơi ở dưới, rễ chạy ngay dưới lớp gạch, nơi còn nước và khí, rồi to dần và đội mặt lát lên. Những tấm đá vỉa hè bị nâng lệch quanh gốc ở các phố Ba Lan, hay khối rễ đẩy gãy cả tấm bê tông vỉa hè ở Wilmington, bang Delaware, đều là cùng một chuyện: cây không có chỗ để rễ xuống sâu. Chặt rễ để lát lại chỉ làm cây yếu đi và dễ đổ trong bão, còn gạch thì vài năm sau lại bị đội lên.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Wilmington
Wilmington, Delaware: khối rễ đẩy gãy tấm vỉa hè bê tông. Ảnh: Famartin, CC BY-SA 4.0
Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Vỉa hè ở Ba Lan: tấm lát bị rễ
Vỉa hè ở Ba Lan: tấm lát bị rễ nâng lệch quanh gốc. Ảnh: Marek Ślusarczyk, CC BY 3.0

Hai lời giải đang dùng rộng rãi đều nhằm cho rễ một vùng đất tơi nằm dưới phần mặt lát chịu tải. Cách thứ nhất là đất cấu trúc: bản CU-Structural Soil do Grabosky và Bassuk ở Đại học Cornell công bố năm 1995 trộn khoảng 80% đá dăm granit cỡ khoảng 1,9 cm với 20% đất sét pha theo khối lượng, đầm chặt vẫn chịu được mặt lát mà rễ luồn qua khe đá được. Một theo dõi 17 năm ở New York, công bố trên Urban Forestry & Urban Greening năm 2016, ghi nhận cây trồng trên vỉa hè có đất cấu trúc đạt cỡ tương đương cây trồng trên dải cỏ, và tỉ lệ sống cao hơn. Cách thứ hai là hộp chịu lực bằng nhựa (soil cell) đổ đầy đất trồng thường, gánh tải mặt lát lên khung hộp thay vì lên đất.

Tầng ngầm còn là nơi cây tranh chỗ với cống thoát nước, ống cấp nước, cáp điện và cáp viễn thông. Khoảng cách 1–2 m tới đường ống ngầm trong TCVN 9257:2012 chỉ thực hiện được khi bản vẽ cây xanh và bản vẽ hạ tầng kỹ thuật được chồng lên nhau từ bước thiết kế cơ sở. Nếu đường ống đã chiếm hết dải đất dưới hè, cần dời tuyến ống hoặc dùng tấm chắn rễ định hướng, chứ không để cây và ống cùng thua.

Tầm nhìn giao lộ: thân lùi khỏi góc, tán nâng cao

Ở giao lộ, cây xanh phải nhường cho tầm nhìn của người lái và người đi bộ. Khoảng lùi 5–8 m tính từ điểm lề đường giao nhau gần nhất, theo Thông tư 20/2005/TT-BXD (phần còn hiệu lực sau Thông tư 05/2021/TT-BXD), giữ cho vùng tam giác nhìn ở góc không bị một thân cây to chắn ngang. Bên trong vùng đó chỉ nên có mặt lát, vạch sơn và cây bụi thấp, không đặt thêm bồn hoa cao hay bảng quảng cáo.

Điều kiện thứ hai là tán phải cao hơn tầm mắt. Tán phân cành thấp hoặc rủ cành sát đất sẽ che khuất người đi bộ bước xuống lòng đường. Ở ngã tư Hoàng Diệu – Trần Phú, những thân cây lớn đứng lùi khỏi góc và tán nâng cao, nên từ lòng đường vẫn nhìn xuyên được qua khoảng giữa thân tới hướng xe đến. Cây mới trồng gần giao lộ nên được tỉa nâng tán dần theo từng năm, và nên chọn loài có thân thẳng, phân cành cao theo tiêu chí chọn cây của TCVN 9257:2012.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Ngã tư Hoàng Diệu
Ngã tư Hoàng Diệu – Trần Phú: thân cây lùi khỏi góc. Ảnh: Phan Minh Tuấn, CC BY-SA 4.0

Chọn tán theo mặt cắt phố, không theo sở thích

TCVN 9257:2012 đưa ra tiêu chí chọn cây đường phố: thân thẳng, dáng đẹp, rễ ăn sâu, ít rụng lá trơ cành, không có gai độc hay quả to rơi gây nguy hiểm, và tuổi thọ dài. Từ đó suy ra ba câu hỏi cho mỗi tuyến: tán trưởng thành rộng bao nhiêu so với khoảng giữa mặt tiền nhà và tim đường; tán dày hay thưa, tức cần bóng mát kín cho lối đi bộ hay cần để lọt sáng cho tầng trệt; và cành có giòn, dễ gãy trong gió bão hay không.

Đại lộ Lê Duẩn ở TP.HCM, đại lộ Norodom thời Pháp, là mặt cắt rộng có hàng cây lớn hai bên, tán vươn cao che cả dải cỏ và lối đi bộ. Nhìn từ trên cao, tuyến cây hiện thành một dải xanh liền chạy giữa những khối cao ốc mới. Đường Tôn Đức Thắng gần đó có những hàng cây lớn đứng trên dải cỏ, tán khép kín thành đường hầm xanh qua trung tâm quận 1. Cả hai tuyến cho thấy giá trị của cây đại mộc chỉ hiện ra sau vài chục năm, nên chọn sai tán ở năm đầu là sai cho cả một đời cây.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Đại lộ Lê Duẩn nhìn từ trên cao: dải
Đại lộ Lê Duẩn nhìn từ trên cao: dải tán giữa cao ốc. Ảnh: Deutsches Haus Ho Chi Minh City, CC BY 2.0
Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Tôn Đức Thắng: hàng cây tán khép kín trên
Tôn Đức Thắng: hàng cây tán khép kín trên lòng đường. Ảnh: trungydang, CC BY 3.0

Chọn tán còn là chuyện đa dạng. Chiến lược rừng đô thị (Urban Forest Strategy) mà thành phố Melbourne thông qua năm 2012 đặt trần: không loài nào quá 5%, không chi nào quá 10%, không họ nào quá 20% tổng số cây. Một tuyến phố trồng thuần một loài cho nhịp đẹp, nhưng một đợt sâu bệnh có thể xoá cả hàng cùng lúc; trộn hai, ba loài có tán tương đương trên cùng một tuyến là cách giữ nhịp mà giảm rủi ro.

Bài học từ Hà Nội, TP.HCM, Paris và Melbourne

Paris quản lý cây đường phố như một hạ tầng có sổ sách: từng cây được kiểm kê và công khai trên cổng dữ liệu mở của Ville de Paris (bộ dữ liệu «Les arbres»). Tra ngày 27/9/2026, bộ dữ liệu ghi 110.244 cây trồng theo hàng trên đường phố (alignement) trong tổng số 220.215 cây do thành phố quản lý, tức khoảng một nửa; riêng chi tiêu huyền (Platanus) có 35.587 cây, khoảng 32% số cây đường phố. Trên đại lộ Montaigne, hàng cây đứng thẳng nhịp dọc làn đỗ xe, tán đã tỉa thành một khối liền che vỉa hè trước các mặt tiền, còn lòng đường vẫn thông thoáng.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Đại lộ Montaigne
Đại lộ Montaigne, Paris: hàng cây dọc làn đỗ xe. Ảnh: Ralf.treinen, CC BY-SA 3.0

Melbourne cho thấy cách đặt mục tiêu bằng số. Khi lập Chiến lược rừng đô thị 2012–2032, City of Melbourne lập bản đồ sức khoẻ, thành phần loài, độ che phủ tán và tuổi thọ hữu ích còn lại của khoảng 70.000 cây do thành phố quản lý trên đường phố và trong công viên, rồi đặt mục tiêu nâng độ che phủ tán trên không gian công cộng từ 22% lên 40% vào năm 2040. Trên phố Collins ở khu trung tâm, hàng cây tán rộng đứng sát mép đường xe điện, đủ lớn để giảm nắng trên cả giao lộ đông người đi bộ.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Phố Collins
Phố Collins, Melbourne: cây tán rộng tại giao lộ trung tâm. Ảnh: wuppertaler, CC BY 4.0

Nhịp thời gian là bài học chung. Roman và Scatena (2011) tổng hợp nhiều nghiên cứu, cho tuổi thọ trung bình cây đường phố khoảng 19–28 năm, tỉ lệ chết 3,5–5,1% mỗi năm; nghĩa là phần lớn cây đường phố chết trước khi đạt kích thước mà người thiết kế vẽ trên phối cảnh. Những hàng cây như Hoàng Diệu hay Tôn Đức Thắng là trường hợp hiếm có đủ đất, đủ khoảng lùi và đủ thời gian. Với tuyến mới, như các đại lộ ở Białystok (Ba Lan) mới trồng cây non có cọc chống và nắp lưới gang, mọi điều kiện đó phải được cài sẵn ngay từ ngày trồng.

Nguyên tắc bố trí cây xanh tuyến phố đô  — Białystok
Białystok, Ba Lan: cây non có cọc chống, nắp lưới gang. Ảnh: Henryk Borawski, CC BY-SA 4.0

Tóm lại, bản vẽ cây xanh tuyến phố nên có đủ năm lớp thông tin: mặt cắt ngang có tán trưởng thành, mặt bằng có khoảng lùi tới bó vỉa, góc phố, họng cứu hoả và hố ga, chi tiết ô trồng, thể tích đất dưới mặt lát ghi bằng mét khối, và danh mục loài có tỉ lệ phần trăm. Thiếu một lớp nào thì hàng cây đó đang được giao cho tổ thi công tự quyết. Chi tiết bó vỉa và vật liệu lát ở phần tiếp giáp ô trồng xem thêm ở bài về ngưỡng kích thước vỉa hè trong cùng mục.

Nguồn: canhquan.net

Ảnh bìa: trungydang, CC BY 3.0. Nguồn: canhquan.net.

42628 Lượt xem