Tài trợ | Test

SGL

Landscape Architecture

sgl.com.vn

Tài trợ | Test

Cố vấn AI

Hỏi đáp cảnh quan · gợi ý chọn cây

Miễn phí trên canhquan.net

Tài trợ | Test

Kiến Trẻ

Sân chơi của người mới vào nghề

canhquan.net/tap-chi

NHÂN VẬT

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường bằng cấp chuẩn: họ học nghề ở đâu?

Frank Lloyd Wright, Le Corbusier, Mies van der Rohe và Tadao Ando đều không có tấm bằng tốt nghiệp kiến trúc. Năm người khác trong danh sách này có đi học, nhưng học ngành khác, bỏ dở giữa chừng hoặc không được phép xưng danh kiến trúc sư. Điểm chung của cả chín không phải là bỏ học, mà là học nghề theo đường vòng: trong văn phòng của một bậc thầy, trên công trường, trong xưởng mộc, xưởng đá, và qua những chuyến đi xem tận mắt công trình.

Chuyện đáng đọc với người làm kiến trúc và cảnh quan hôm nay không nằm ở chỗ ai giỏi hơn ai, mà ở cách từng người tự lấp chỗ trống mà trường lớp để lại.

Bằng cấp, đào tạo và danh xưng: ba chuyện khác nhau

Khi nói một kiến trúc sư không qua trường lớp, người ta hay gộp ba chuyện làm một. Thứ nhất là tấm bằng tốt nghiệp đại học ngành kiến trúc. Thứ hai là quá trình đào tạo thật, tức những năm vẽ, dựng, sai và sửa dưới tay người có nghề. Thứ ba là danh xưng pháp lý: ở nhiều nước, chữ kiến trúc sư được luật bảo hộ, và muốn dùng nó phải đăng ký với một cơ quan nhà nước.

Vương quốc Anh là ví dụ rõ: theo Đạo luật Kiến trúc sư 1997 (Architects Act 1997), Hội đồng Đăng ký Kiến trúc sư (ARB) giữ sổ đăng ký, và dùng danh xưng kiến trúc sư khi chưa có tên trong sổ có thể bị toà xử phạt. Ở Ý, Carlo Scarpa là trường hợp nổi tiếng nhất của khoảng cách giữa tài năng và danh xưng, sẽ nói ở phần sau. Chín người trong bài rơi vào ba nhóm: không học trường kiến trúc nào (Wright, Le Corbusier, Mies, Fuller, Ando); có học nhưng bỏ ngang (Sullivan); và học ngành gần hoặc có học kiến trúc nhưng không theo đường bằng cấp chuẩn (Barragán, Scarpa, Zumthor).

Wright và Sullivan: văn phòng Adler & Sullivan là trường học

Frank Lloyd Wright sinh năm 1867 ở Wisconsin. Năm 1886, ở tuổi 19, ông vào Đại học Wisconsin–Madison với tư cách sinh viên đặc biệt, học kỹ thuật xây dựng dân dụng rồi rời trường mà không lấy bằng. Năm 1887 ông lên Chicago, làm thợ vẽ cho kiến trúc sư Joseph Lyman Silsbee chưa đầy một năm, rồi chuyển sang văn phòng Adler & Sullivan, nơi ông làm việc từ 1888 đến 1893. Suốt 70 năm hành nghề, Wright thiết kế hơn 1.000 công trình. Trớ trêu là tới năm 1955, khi ông đã 88 tuổi, chính Đại học Wisconsin trao cho ông bằng tiến sĩ danh dự.

Người thầy Louis Sullivan có đi học nhưng không học trọn. Ông vào MIT năm 16 tuổi và chỉ học kiến trúc ở đó một thời gian ngắn, làm cho văn phòng William Le Baron Jenney chưa tới một năm, rồi sang Paris học ở École des Beaux-Arts khoảng một năm. Năm 1879 Dankmar Adler nhận ông vào làm, một năm sau ông thành đối tác. Năm 1896 Sullivan viết câu về sau được rút gọn thành khẩu hiệu "hình thức theo sau công năng" (form ever follows function), một trong những nguyên tắc nền của kiến trúc hiện đại.

Tòa nhà Guaranty ở Buffalo cho thấy Sullivan học được gì ngoài giảng đường: khung thép chịu lực cho phép nhà cao hơn và cửa sổ rộng hơn, còn mặt ngoài phủ đất nung (terra cotta) khắc hoa văn dây leo, loại vật liệu nhẹ và dễ tạo hình hơn đá. Hoa văn ấy thường do các thợ vẽ trẻ trong văn phòng thể hiện, và Wright là một trong số đó.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Mặt ngoài tòa nhà Guaranty ở Buffalo phủ đất
Mặt ngoài tòa nhà Guaranty ở Buffalo phủ đất nung khắc hoa văn. Ảnh: w_lemay, CC BY-SA 2.0

Với người làm cảnh quan, tác phẩm đáng xem nhất của Wright là Fallingwater (1935–1939) ở Pennsylvania, ngôi nhà đặt một phần lên thác nước của suối Bear Run. Tầng thác trên cao khoảng 6–9 m, tầng thác dưới khoảng 2–3 m; nhà làm bằng đá sa thạch khai thác tại chỗ, bê tông cốt thép, thép và kính tấm. Tổ chức Western Pennsylvania Conservancy nhận quản lý công trình từ năm 1963, ban đầu cùng hơn 1.700 mẫu Anh (gần 700 ha) đất rừng quanh nhà; khu bảo tồn Bear Run mà tổ chức này mở rộng dần quanh Fallingwater nay rộng khoảng 2.064 ha (5.100 mẫu Anh). Bài học ở đây không phải hình khối, mà là việc chọn vị trí: nhà không đặt ở chỗ cao dễ thấy mà nép vào dòng suối.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Các ban công bê tông của Fallingwater vươn ra
Các ban công bê tông của Fallingwater vươn ra trên dòng suối. Ảnh: Andre Carrotflower, CC BY-SA 4.0

Le Corbusier và Mies: cùng học việc ở văn phòng Peter Behrens

Le Corbusier, tên khai sinh Charles-Édouard Jeanneret, sinh năm 1887 ở La Chaux-de-Fonds, Thụy Sĩ, thành phố của nghề đồng hồ. Năm 15 tuổi ông vào trường nghệ thuật của thành phố, nơi dạy các môn mỹ thuật ứng dụng gắn với nghề làm đồng hồ. Kiến trúc thì ông tự học: đọc sách ở thư viện, vào bảo tàng, ký hoạ công trình. Từ 1908 đến 1910 ông làm thợ vẽ 14 tháng cho Auguste Perret ở Paris, người đi đầu dùng bê tông cốt thép cho nhà ở; rồi từ tháng 10/1910 đến tháng 3/1911 làm bốn tháng trong văn phòng Peter Behrens ở Đức. Chuyến đi năm 1911 qua Balkan, Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và Ý để lại gần 80 cuốn sổ ký hoạ.

Cũng trong văn phòng Behrens khi ấy có Ludwig Mies van der Rohe. Mies sinh năm 1886 ở Aachen, làm trong xưởng khắc đá của cha và ở vài hãng thiết kế địa phương, rồi lên Berlin làm cho nhà thiết kế nội thất Bruno Paul. Từ 1908 đến 1912 ông học việc ở văn phòng Behrens. Người không có bằng đại học ấy về sau lại là giám đốc cuối cùng của trường Bauhaus, rồi trưởng khoa kiến trúc ở Học viện Công nghệ Illinois (IIT), nơi ông thay giáo trình Beaux-Arts bằng lộ trình ba bước bắt đầu từ tay nghề vẽ và cấu tạo.

Gian trưng bày của Đức tại Triển lãm Quốc tế Barcelona 1929, quen gọi là Barcelona Pavilion, là bài học cảnh quan rõ nhất của Mies. Hai bể nước nông giới hạn bởi tường đá travertine hình chữ U, sàn nhô ra trên mặt nước để nối trong và ngoài. Mies đặt bức tượng Bình minh (Alba) của Georg Kolbe trong bể nhỏ, để bể lớn trống hẳn. Bản đang đứng ở Barcelona là bản dựng lại năm 1986 trên đúng nền cũ.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Tượng Bình minh của Georg Kolbe trong bể nước
Tượng Bình minh của Georg Kolbe trong bể nước nhỏ, Barcelona Pavilion. Ảnh: 19Tarrestnom65, CC BY-SA 4.0
9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Bể nước lớn trước Barcelona Pavilion của Mies
Bể nước lớn trước Barcelona Pavilion của Mies. Ảnh: marfis75, CC BY-SA 2.0

Le Corbusier đưa khu vườn vào chính ngôi nhà. Villa Savoye (1928–1931) ở Poissy là bản mẫu cho "năm điểm" của ông, trong đó có hàng cột pilotis nâng nhà khỏi mặt đất để khu vườn chạy luồn dưới gầm, và mái bằng dùng làm vườn và sân, trả lại cho thiên nhiên phần đất mà ngôi nhà đã chiếm.

Buckminster Fuller: hai lần bị đuổi khỏi Harvard

Richard Buckminster Fuller vào Harvard rồi bị đuổi hai lần: lần đầu vì tiêu hết tiền vào một đoàn tạp kỹ, lần sau vì bị coi là thiếu trách nhiệm và thiếu hứng thú học. Giữa hai lần ấy ông làm thợ máy trong một nhà máy dệt ở Canada, rồi làm công nhân ngành chế biến thịt. Ông có chứng chỉ thợ máy và thạo máy chấn, máy kéo giãn và các dụng cụ gia công tôn. Suốt đời, Fuller được cấp 28 bằng sáng chế ở Hoa Kỳ và nhiều bằng tiến sĩ danh dự.

Vòm trắc đạc (geodesic dome) là công trình gắn với tên ông. Mái vòm kiểu này đã được Walther Bauersfeld dựng và cấp bằng sáng chế ở Đức năm 1925; đơn xin sáng chế của Fuller không nhắc tới điều đó, nên công lao của ông nằm ở việc biến nó thành kết cấu tự đỡ phổ biến, với hàng nghìn vòm dựng khắp thế giới chỉ trong vài năm. Ví dụ được nhắc nhiều nhất là gian Hoa Kỳ tại Expo 67 ở Montréal, mở cửa từ 27/4 đến 29/10/1967: khối cầu lưới thép hai lớp đường kính 76 m, cao 62 m. Vụ cháy ngày 20/5/1976 làm công trình hư hại nặng, thành phố giữ lại bộ khung; từ năm 2007 công trình mang tên Biosphère, một bảo tàng về môi trường.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Khung lưới thép Biosphère Montréal sau tán cây đỏ
Khung lưới thép Biosphère Montréal sau tán cây đỏ mùa thu. Ảnh: 0x010C, CC BY-SA 4.0

Barragán: kỹ sư học thêm để lấy danh hiệu kiến trúc sư

Luis Barragán sinh năm 1902 ở Guadalajara, tốt nghiệp kỹ sư ở trường Escuela Libre de Ingenieros năm 1923. Ông học thêm các môn của ngành kiến trúc, nhưng nghề thiết kế của ông hình thành chủ yếu từ các chuyến đi hơn là từ tấm bằng. Sau khi tốt nghiệp ông đi Tây Ban Nha và Pháp, và năm 1931 lại sang Pháp với một chặng dừng dài ở New York. Năm 1980 ông là người thứ hai nhận giải Pritzker. Nhà và xưởng của ông ở Tacubaya, dựng năm 1947, được UNESCO công nhận di sản thế giới năm 2004.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Hành lang vàng dẫn tới bể bơi xanh trong
Hành lang vàng dẫn tới bể bơi xanh trong Casa Gilardi của Barragán. Ảnh: Ulises00, Public domain

Barragán là trường hợp gần nghề cảnh quan nhất trong danh sách. Giữa thập niên 1940 ông phát triển khu Jardines del Pedregal rộng 510 ha trên bãi dung nham của núi lửa Xitle ở phía nam Thành phố Mexico, với ý tưởng hoà hợp kiến trúc và địa hình. Các khu vườn mẫu của ông ở đó rộng khoảng 30.000 m², bao bằng tường đá núi lửa, cổng gỗ đẽo thô, để người mua đất thấy một khu vườn trên đá dung nham có thể trông ra sao. Ông chống lại quan niệm nhà là cỗ máy để ở và nói rằng công trình nào không toát ra sự thanh thản thì là một sai lầm.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Chum đất
Chum đất, giếng và tường phủ dây leo bên ngoài nhà Luis Barragán. Ảnh: Daniel Case, CC BY-SA 3.0

Scarpa: người không được xưng danh Architetto

Carlo Scarpa học ở Học viện Mỹ thuật Venice và tốt nghiệp với danh hiệu giáo sư kiến trúc, rồi học việc với kiến trúc sư Francesco Rinaldo. Nhưng ông từ chối dự kỳ thi sát hạch hành nghề do nhà nước Ý tổ chức, nên không được dùng danh xưng Architetto, cũng không được hành nghề nếu không đứng chung với một kiến trúc sư có giấy phép. Dù vậy, ông dạy vẽ và trang trí nội thất tại Đại học Kiến trúc Venice (IUAV) từ cuối thập niên 1940 cho tới khi mất.

Khu mộ Brion ở San Vito d'Altivole, gần Treviso, là tác phẩm cảnh quan lớn nhất của Scarpa: phần mở rộng hình chữ L rộng 2.000 m² nối vào nghĩa trang của xã, thiết kế từ 1968 tới 1978. Trong vườn có một rừng bách dày, một bãi cỏ, một đình nhỏ để ngồi ngắm và một hồ nước phủ kín cây thuỷ sinh. Scarpa nói nơi của người chết là một khu vườn, và chính ông được chôn sát khu mộ này.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Khung tròn ở khu mộ Brion đóng khung bãi
Khung tròn ở khu mộ Brion đóng khung bãi cỏ và bức tường. Ảnh: Maiacard, CC BY-SA 4.0

Hai vòng tròn lồng vào nhau, viền khảm màu, là chi tiết người ta nhớ nhất ở Brion. Đứng sau khung tròn, người xem thấy bãi cỏ và bức tường nghiêng như một bức tranh được đóng khung, một kỹ thuật dẫn tầm nhìn mà người làm vườn Nhật gọi là mượn cảnh.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Hai vòng tròn lồng nhau viền khảm màu ở
Hai vòng tròn lồng nhau viền khảm màu ở khu mộ Brion. Ảnh: Maiacard, CC BY-SA 4.0

Ando: từ võ đài lên nghề kiến trúc qua học vẽ ban đêm

Tadao Ando không có đào tạo chính quy nào về kiến trúc. Trước khi làm kiến trúc, ông là võ sĩ quyền anh. Hồi trung học, một chuyến lên Tokyo xem khách sạn Imperial do Frank Lloyd Wright thiết kế đã khiến ông chọn nghề. Chưa đầy hai năm sau khi rời trung học, ông bỏ quyền anh, học vẽ vào ban đêm, theo các khoá học thiết kế nội thất qua thư, rồi đi xem công trình của Le Corbusier, Mies, Wright, Louis Kahn và sang Hy Lạp xem đền Parthenon. Năm 1995 ông nhận giải Pritzker.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Bậc nước nông điểm hoa đỏ ở Awaji Yumebutai
Bậc nước nông điểm hoa đỏ ở Awaji Yumebutai của Ando. Ảnh: 663highland, CC BY 2.5

Nhà thờ Ánh sáng (1989) ở Ibaraki, Osaka là bài học về ánh sáng với rất ít vật liệu: ba khối lập phương bê tông cạnh 5,9 m, cả công trình dài 17,7 m, bị một bức tường xiên 15° cắt qua; vỏ bê tông dày 38 cm. Chữ thập là một khe hở trên tường, ánh sáng tự vẽ nó vào trong. Wikipedia mô tả Ando là người tự học, nổi tiếng vì cách kết hợp kiến trúc với cảnh quan, và Awaji Yumebutai trên đảo Awaji là nơi thấy rõ điều đó, với bậc nước và vườn hoa trải trên sườn dốc.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Chữ thập ánh sáng trên tường bê tông
Chữ thập ánh sáng trên tường bê tông, Nhà thờ Ánh sáng của Ando. Ảnh: Chun-Hung Eric Cheng, CC BY 2.0

Zumthor: từ bàn bào thợ mộc tới Huy chương Vàng RIBA

Peter Zumthor lớn lên bên xưởng của cha, một thợ đóng đồ gỗ, và năm 1958 học việc thợ mộc. Từ năm 1963 ông học ở Kunstgewerbeschule, trường mỹ thuật ứng dụng của thành phố quê nhà Basel; năm 1966 ông sang Viện Pratt ở New York học thiết kế công nghiệp và kiến trúc theo diện trao đổi. Như vậy Zumthor có học kiến trúc, nhưng con đường của ông đi từ bàn bào chứ không từ một khoa kiến trúc; ông nhận giải Pritzker năm 2009 và Huy chương Vàng RIBA năm 2013.

Khu tắm nước khoáng ở Vals (1993–1996), bang Graubünden, Thụy Sĩ, được dựng trên nguồn nước nóng duy nhất của bang. Ý tưởng là một mỏ đá: 15 khối như những chiếc bàn cao 5 m, ốp 60.000 thanh đá quartzite Valser khai thác tại chỗ, mỗi thanh dài 1 m. Đá có ba chiều cao khác nhau nhưng tổng ba lớp luôn là 15 cm, vừa cho nhịp ốp đa dạng vừa dễ thi công. Đó là lối nghĩ của người thợ: vẻ đẹp nằm trong một quy tắc lắp dựng.

9 kiến trúc sư lừng danh không đi đường  — Bể tắm ngoài trời của khu tắm Vals giữa
Bể tắm ngoài trời của khu tắm Vals giữa sườn núi Graubünden. Ảnh: fcamusd, CC BY 2.0

Người làm cảnh quan học được gì từ chín con đường này

Cả chín người đều học nhiều hơn chứ không ít hơn: Wright học nghề qua hai văn phòng ở Chicago, Le Corbusier làm cho hai bậc thầy và lấp đầy gần 80 cuốn sổ ký hoạ, Ando đi khắp châu Âu để đứng trước công trình thật. Cái họ bỏ qua chỉ là tấm bằng; giờ học nghề thì họ có thừa, chỉ khác chỗ học mà thôi.

Rất nhiều người trong số họ đến với kiến trúc từ một nghề tay chân: khắc đồng hồ, khắc đá, làm mộc, gia công tôn. Nghề cảnh quan cũng vậy, người hiểu đất, đá, cây và nước bằng tay thường ra quyết định thiết kế tốt hơn người chỉ biết chúng qua bản vẽ. Thác nước ở Fallingwater, đá dung nham ở El Pedregal, quartzite ở Vals đều là vật liệu tại chỗ được dùng bởi người biết chúng từ gốc — cùng một cách làm áp được vào việc chọn đá ốp hay xử lý mặt nước hôm nay: hỏi người thợ khai thác đá hay đội thi công tại chỗ trước khi chốt vật liệu theo catalogue.

Danh xưng thì vẫn có giá riêng của nó. Scarpa là bậc thầy nhưng cả đời không được ký bản vẽ với tư cách kiến trúc sư ở Ý. Ở những nơi hành nghề được luật quản lý, tấm bằng và chứng chỉ vẫn là cửa vào; chín tiểu sử trên cho thấy cửa vào ấy không quyết định người ta đi được bao xa.

Và gần như cả chín đều làm việc với cảnh quan: Wright với dòng suối, Mies với mặt nước, Le Corbusier với vườn trên mái, Barragán với đá núi lửa, Scarpa với vườn mộ, Ando với sườn đồi, Zumthor với mỏ đá và suối khoáng. Với ngành cảnh quan còn trẻ ở Việt Nam, ranh giới giữa kiến trúc và cảnh quan xưa nay vẫn do những người đi đường vòng xoá nhoà trước tiên.

Dữ kiện tiểu sử trong bài lấy từ hồ sơ bách khoa Wikipedia tiếng Anh về từng nhân vật, danh sách giải Pritzker và các trang giới thiệu từng công trình; chỗ nào nguồn ghi mơ hồ, bài nói rõ là mơ hồ.

Ảnh bìa: Carol M. Highsmith, Public domain.

5611 Lượt xem